Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Trần Đức Thảo và những đóng góp về triết học

Giáo sư Trần Đức Thảo Giáo sư Trần Đức Thảo

Trần Đức Thảo- sinh ngày 26/9/1917 tại xã Song Tháp, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình viên chức nhỏ. Năm 1935, sau khi đỗ xuất sắc tú tài, ông theo học trường luật Hà Nội. Năm 1936 ông được gửi sang Pháp chuẩn bị thi vào  Ecol Normal Superieure de la Rue d' Ulm (Trường cao đẳng sư phạm phố d' Ulm thủ đô Paris) - một trường nổi tiếng ở Pháp về truyền thống tư tưởng tân tiến, văn hoá và khoa học hiện đại.

Năm 1939, Trần Đức Thảo thi đỗ vào trường với số điểm cao và đến năm 1945 tốt nghiệp thủ khoa, nhận học vị thạc sĩ triết học với luận án Phương pháp hiện tượng luận của Husserl (La methode phenomenologique chez Husserl). Sau đó ông đăng ký làm luận án tiến sĩ triết học ở Trường đại học Sorbonne về hiện tượng luận Husserl.Nhưng do cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương ngày càng ác liệt, người thanh niên yêu nước bị cuốn vào phong trào đấu tranh đòi hoà bình, nên đã bị bọn thực dân bắt giam. Nhớ lại giai đoạn này, Trần Đức Thảo viết: “Tôi đã sử dụng thời gian rảnh rỗi này để kiểm tra lại nhận thức của mình về hiện tượng học. Nhưng tình hình khách quan mà tôi tự nhận thấy, cùng với sự đối kháng mạnh mẽ giữa dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa tư bản đế quốc đã hướng tôi tới con đường chủ nghĩa Mác - Lênin. Kết quả của sự định hướng này là tác phẩm Hiện tượn gluận và chủ nghĩa duy vật biện chứng'' (2, tr.139)..

Năm 1946, Chủ Tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, Trần Đức Thảo đã báo cáo với người về tình hình Việt kiều và hứa sẽ trở về đất nước tham gia kháng chiến khi viết xong luận án tiến sĩ. Tháng 9 năm 1848  theo đơn đặt hàng của Merleau Ponty, Trần Đức Thảo viết bài Hiện tượng học tinh thần và nội dung hiện thực của nó, nhờ vậy, ông có điều kiện tìm hiểu thêm về Hegel, nhờ việc làm này ông ''đi đến kết luận rằng chỉ phương pháp duy vật biện chứng mới cho phép tìm hiểu nội dung hiện thực, và nghĩa đích thực của Thuyết hiện tượng học Husserl... đồng thời  tự giải thoát quan điểm duy tâm của Husserl. Nó chính là cây cầu ...đi từ hiện tượng học Hegel đến chủ nghĩa duy vật biện chứng''.

Đầu năm 1950,  giữa Trần Đức Thảo và  J. P. Sartre - nhà hiện sinh nổi tiếng người Pháp  nổ ra cuộc tranh luận.Vấn đề là ở chỗ, Sartre chỉ công nhận chủ nghĩa Marx về phương diện chính trị và xã hội, còn về phương diện triết học theo ông là không đáng kể, vì chủ nghĩa Marx căn bản không giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, mà chỉ đem đối lập chúng. Phản bác lại quan điểm sai lầm này của Sartre, Trần Đức Thảo cho rằng chủ nghĩa Marx là một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, bao gồm cả  hai phương diện: chính trị và triết học; cuộc tranh luận đến buổi thứ năm phải ngừng vì thật sự Sartre chưa am hiểu tận tường về hiện tượng luận của Husserl.

Để lời nói mình có sức thuyết phục công chúng, tháng 8 năm 1951, tại Nhà xuất bản Minh Tân (Paris),Trần Đức Thảo ra mắt độc giả cuốn Phenomenologie et materialisme dialectique (Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng).

Cuốn sách chia thành hai phần: 1) Phương pháp của hiện tượng học và nội dung thực tế của nó; 2) Phép biện chứng của sự vận động hiện thực. Về nội dung tổng quátcủa cuốn sách đã được tác giả nói trong Lời mở đầu:''Công trình mà chúng tôi giới thiệu với công chúng bao gồm những bài nghiên cứu theo những  thời gian và sự gợi hứng khác nhau.Trong phần đầu, được soạn thảo từ 1942 đến 1950, chúng tôi trình bày những điểm chủ yếu của hiện tượng học trên một quan điểm thuần tuý lịch sử  và cả những triển vọng của tư tưởng Husserl, còn sự chỉ trích mà chúng tôi đi tới chỉ là ghi nhận những mâu thuẫn nội tại trong chính ngay tác phẩm của Husserl.Ngược lại, phần thứ hai, được hoàn thành vào năm 1951, thì hoàn toàn đặt trên bình diện của  chủ nghĩa duy vật biện chứng. ở phần này, đúng là chúng tôi cũng lấy lại một  số kết quả về mặt kỹ thuật của  các phân tích đã tiến hành, nhưng chỉ coi chúng đơn thuần là những dữ kiện thực nghiệm hoàn toàn được giải phóng khỏi phạm vi triết học vốn chi phối thực tiễn  mô tả của Husserl.Tuy nhiên, ở đây không có một chút gì giống với đơn giản đặt kề nhau hai quan điểm trái ngược: chủ nghĩa Marx được chúng tôi xem là giải pháp duy nhất có thể  nghĩ đến đối với các vấn đề của chính hiện tượng học nêu ra.

Trong phần trình bày tư tưởng của Husserl, nhiệm vụ của chúng tôi tương đối dễ dàng khi chỉ đề cập đến lý luận của  phân tích hiện tượng học, dưới ba dạng xuất hiện kế tiếp nhau trong sự phát triển của nó: mô tả các bản chất cố định, cái đã sống trải, xác định di truyền. Các khái niệm ở đây khá đơn giản, vả  lại đã được phát triển đầy đủ trong các tác phẩm đã xuất bản. Nhưng  không có thực tiễn thì lý luận chẳng là cái  gì hết, và từ lâu chúng tôi đã cho rằng cần phải lồng vào ngay trong phần trình bày về phương pháp những kết quả thực tế mà lý luận đã đem lại, khi cái chính yếu còn chưa được xuất bản'' (1, tr.13 -14).

Với trực giác nhạy cảm của một người đã từng đắm mình trong kho sách các nhà khai sáng, cộng thêm những thực tiễn đã sống trải trong suốt mấy chục năm trời ở Việt Nam  thuộc địa và nước Pháp chính quốc, Trần Đức Thảo nhận thấy rằng, phương pháp hiện tượng học không thể giúp ông đạt hiệu quả trong nghiên cứu khoa học, mà cần phải thay đổi nó. ''Cho nên - Trần Đức Thảo viết - các phân tích hiện tượng học cụ thể chỉ có thể thấy hết được ý nghĩa của chúng và được phát triển đầy đủ trong phạm vi của chủ nghĩa duy vật biện chứng.Tất nhiên là trong những điều kiện âý, chúng ta buộc phải vứt bỏ không những tính tổng thể của học thuyết  Husserl mà ngay cả phương pháp của nó trong chừng mực nó bị xơ cứng biến thành các công thức trừu tượng...dù thế nào chăng nữa, lý thuyết chỉ có ý nghĩa thông qua thực tiễn, và chính những đòi hỏi thực tiễn của công việc mô tả bắt buộc ta phải lật nhào lý thuyết của chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm'' (1, tr.17).

Là một người dày công nghiên cứu các trước tác của Husserl, thậm chí nghiên cứu chúng ngay cả trong các bản thảo viết tay tại cơ quan lưu trữ Husserl ở phố Louvain (nước Bỉ), Trần Đức Thảo có căn cứ thực tế để khẳng định rằng: ''Nếu Husserl vẫn còn ở lại với truyền thống của chủ nghĩa duy lý duy tâm, đánh dấu sự nở rộ muộn mằn của giai cấp tư sản Đức và những điểm tiến bộ chớm hé nở của nó, thì sự phát triển của ông cũng chỉ chứng tỏ không hơn gì một sự khắc khoải thắc mắc ngày càng tăng về nền tảng hiện thực của những ý nghĩ được nhằm vào trong ý thức.Từ chỗ vui mừng về tính vĩnh cửu trong việc trực giác các bản chất đến vấn đề lo âu đặt ra trong cuốn sách Sự khủng hoảng của khoa học châu Âu được trình bày như là cuộc khủng hoảng của nhân loại ở phương Tây, mỗi ngày càng bộc lộ rõ ra sâu sắc hơn cái cảm giác về tính phù phiếm mà các giá trị truyền thống đã đắm mình vào, và cái khẩu hiệu nổi tiếng ''Hãy trở về với chính sự vật'' ngày càng công nhiên mang ý nghĩa một sự quay trở lại với các hiện thực cảm tính của thế giới sự sống. Nhưng lập trường giai cấp đã không cho phép Husserl đi tới các quan hệ xã hội về sản xuất là cái xác định nội dung hiện thực của đời sống cảm tính, và ''sự tạo lập siêu nghiệm'', được quy giản thành việc tìm kiếm cơ sở cuối cùng của nó ở dữ kiện giác quan thuần tuý, thật trớ trêu đã đưa đến chủ nghĩa hoài nghi hoàn toàn... Với việc chuyển từ hiện tượng học  sang chủ nghĩa hiện sinh, chủ đề cao xa của sự phê phán chủ nghĩa  tâm lý là bác bỏ tính chủ quan của con người nhân danh tính khách quan và tính phổ biến của cái Chân đã bộc lộ sự không vững chắc của bản thân nó khi nhường chỗ cho sự phủ định thuần tuý các  điều kiện của hiện thực đời sống với tính chủ quan thuần tuý của ''quyết định sắt đá'', trong đó sự độc đoán của cá nhân được thiết lập một cách có hệ thống làm thành cơ sở cuối cùng của mọi giá trị chân chính'' (1, tr.23).

Theo Trần Đức Thảo, những  hạn chế trong hiện tượng luận của Husserl cả về phương pháp (duy tâm chủ quan  tiên nghiệm) lẫn nội dung phản ánh (tập trung xuay quanh vấn đề con người và đời sống nội tâm của nó như nhận thức, ý thức,v.v...) đều xuất phát từ  lập trường giai cấp và điều kiện sống trải*của nhà triết học này.Và sau đó, người kế nhiệm Husserl là Haidegger cũng không xa rời tôn chỉ mục đích của thầy mình khi phát triển hiện tượng học sang hướng hiện sinh, nghĩa là cực đoan hoá các quan điểm của  hiện tượng học.

Chịu ảnh hưởng phần nào phương pháp tiếp cận hiện tượng học của M. Merleau Pontyä, Trần Đức Thảo đi sâu nghiên cứu Hiện tượng học tinh thần của Hegel và Tư bản của Marx.Điều này đã giúp ông có một cái nhìn khoa học hơn, hiện thực hơn trong phần hai (Phép biện chứng của sự vận động hiện thực) của tác phẩm mà chúng ta đang bàn . Sau khi phân tích phép biện chứng của hành vi động vậtphép biện chứng của các xã hội loài người trên cơ sở so sánh quan điểm của hiện tượng học Husserl và phép biện chứng duy vật, Trần Đức Thảo đi đến kết luận: ''Phép biện chứng duy vật diễn đạt sự vận động của các giá trị con người sinh ra từ lao động xã hội của con người. Do đó sự phê phán không thương tiếc mà nó tiến hành đối với   các khái niệm của xã hội cũ không còn là sự phá hoại đơn giản, mà là sự khôi phục nội dung xác thực của  chúng, cho phép lấy lại chúng trên bình diện cao hơn của nhân loại mới.Trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chuyển lên xây dựng chủ nghĩa cộng sản, cuối cùng thì sự hoà giải thế giới được thực hiện , sự hoà giải ấy là mơ ước của tư tưởng tư sản trong phép biện chứng duy tâm về các hình thức bóc lột nay được giai cấp vô sản đặt trên mảnh đất thực sự của  nó bằng sự tổ chức lao động xã hội, trong đó thủ tiêu mọi cấu trúc giai cấp và mọi lý do của sự đặc quyền. Là sự thực hiện  hình thức con người của nhân loại, chủ nghĩa Marx hoàn thành các khát  vọng lý tưởng của quá khứ. Nhưng bản thân nó không chỉ được đặt ra trên mặt ý niệm: nó là sự vận động thực tế của toàn thể xã hội, trong đó các cơ cấu trừu tượng được giai cấp vô sản hấp thụ bởi tính vật chất của đời sống hiện thực của chúng'' (1, tr.347).

Tác phẩm đánh dấu bước chuyển tư tưởng triết học của ông từ hiện tượng luận sang chủ nghĩa duy vật biện chứng, mặc dầu bước chuyển đó còn ngập ngừng, như sau này ông  công nhận:''Tôi chỉ bước tới ngưỡng cửa chủ nghĩa Marx… thừa nhận chân lý nền móng lý luận  chủ nghĩa duy vật biện chứng, mà chưa có hiểu biết đầy đủ về các nguyên bản kinh điển của chủ nghĩa Marx- Lenin, đặc biệt là về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong những phân tích cụ thể ở phần hai cuốn sách của tôi, phương pháp muốn làm ra duy vật chủ nghĩa, nhưng lại lạc lõng vào những giọng điệu chải chuốt của   hiện tượng học kép - Hursserl và Hegel. Mặc dầu vậy, lập trường nguyên tắc đã được khẳng định rõ ràng, ít ra là về mặt triết học, cũng đủ cho tôi quyết định trở về Việt Nam. Phải làm cho cuộc sống nhất trí với triết học, hoàn thành một hành động thực tế đáp ứng với các kết luận về lý luận trong cuốn sách của tôi'' (2, tr.141).Thực hiện quyết định đó, cuối năm 1951 Trần Đức Thảo rời thủ đô Paris tráng lệ và cuộc sống đầy tiện nghi châu âu,  trở về Việt Nam  tham gia kháng chiến.Tại chiến khu Việt Bắc, ông tham gia tích cực các công việc của Bộ giáo dục, làm biên dịch các tác phẩm của đồng chí Trường Chinh tại văn phòng tổng bí thư.

Sau hoà bình, ông được cử làm phó giám đốc Đại học sư phạm văn khoa, rồi chủ nhiệm khoa sử, giảng viên lịch sử  triết học  Đại học tổng hợp Hà Nội. Đây có lẽ là những tháng năm sôi nổi và bận rộn nhất trong cuộc đời nhà triết học; vì ông sống trong không khí giảng đường đại học, được tiếp xúc với giới sinh viên.Theo lời kể của Nguyễn Đình Chú thì “có một không khí sùng bái môn triết học của giáo sư Trần Đức Thảo” (13, tr.54). Những  bài giảng  về biện chứng pháp thần kinh và lịch sử triết học của vị giáo sư này về sau được (cựu sinh viên) giáo sư  Nguyễn Hoàng Gia biên tập lại và xuất bản thành sách: Lịch sử triết học trước Marx, (Nxb. KHXH, 1995). Trong phần Biện chứng pháp của tiền sử tư tưởng, Trần Đức Thảo khảo sát quá trình phát triển của hệ thần khinh từ trạng thái thô sơ (xoang tràng, giun, cá) đến trạng thái phát triển hơn trong các lớp có vú như khỉ, khỉ nhân hình. Ông cho rằng, “ở trình độ khỉ nhân hình, ý thức đạt đến một mức khá cao nhưng chưa thể nói là nhận thức mà hãy còn là ý thức cảm tính. ý thức nhất thời phát sinh trong hoàn cảnh trước mắt, chứ chưa bao quát được hoàn cảnh rộng rãi. Đây là trình độ cao nhất của ý thức cảm tính tiến gần đến nhận thức” (3, tr.39), tức là tiến gần đến trình độ người. Nhưng để tiến đến trình độ người theo ý kiến của Trần Đức Thảo cần một điều kiện tiên quyết, đó chính là  việc chế tác, sử dụng công cụ sản xuất và ngôn ngữ.

Sau  vụ báo “Nhân văn”, Trần Đức Thảo thôi giảng dạy ở trường đại học; ông  dành nhiều thời gian nghiên cứu các tác phẩm kinh điển Mác - Lênin, làm chuyên viên Nhà xuất bản Sự Thật. Sống trong cảnh thiếu thốn vật chất và thông tin khoa học, song giáo sư vẫn tiếp tục nghiên cứu và trao đổi hoc thuật với giới khoa học Pháp; biểu hiện của sự cộng tác này là chùm các bài viết bằng pháp ngữ về chủ đề sự hình thành ngôn ngữ và ý thức con người đăng tải nhiều số trên La pensée (Tư tưởng) - một tạp chí khoa học và triết học hàng đầu của Pháp. Năm 1973  Nxb. Xã hội (Edition sociale), tập hợp các bài viết đó in thành sách với nhan đề: Rechercher sur L’ogine du langage et de la conscience (Tìm về cội nguồn của  ngôn ngữ và ý thức). Trên quan điểm duy vật lịch sử, vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp thống nhất  giữa logic và lịch sử, bằng những tư liệu khảo cổ học, dân tộc học, tâm lý trẻ em, lịch sử tôn giáo nguyên thuỷ đã tích luỹ trong quá trình học tập, nghiên cứu, ông cố gắng phác hoạ lịch sử hình thành ý thức và ngôn ngữ trong  con người đầu tiên; phân tích  mối quan hệ biện chứng giữa lao động, ngôn ngữ và ý thức xuất phát từ hành vi đơn giản  nhưng có ý nghĩa  nhất của người nguyên thuỷ (lịch đại) và  đứa trẻ (đồng đại) là chỉ trỏ.

Trong phần Động tác chỉ dẫn như là hình thức gốc của ý thức, tác giả khảo cứu những dấu hiệu đầu tiên của quá trình chuyển biến từ loài khỉ nam phi (Australanthrope) đến Dự người (Pro- homo) đến người khôn ngoan (homo sapiens). Vận dụng các kiến thức khoa học liên nghành, Trần Đức Thảo lấy những tư liệu khảo cổ học, dân tộc học, tâm- sinh lý học, đem so sánh với những hành vi của trẻ nhỏ, coi đó như là giai đoạn ấu thơ của nhân loại. Theo ông, ngôn ngữ và ý thức là kết quả của lao động xã hội, chúng sinh thành, tồn tại và phát triển trong mối quan hệ nhân quả. Ông viết: “ý thức phải được khảo cứu trước hết trong tính hiện thực trực tiếp của nó: ngôn ngữ tất nhiên hiểu theo nghĩa chung là ngôn ngữ cử chỉ và ngôn ngữ khẩu thiệt. Ngôn ngữ vốn được cấu thành ngay trên bản thân động tác lao động tác động thích nghi bắt đầu từ trình độ người vượn” (4, tr.21). ý kiến này góp phần minh hoạ thêm quan điểm Engels trong Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người, theo đó thì “lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần chuyển biến thành bộ óc con người” (5, tr.641)

Phần hai Ngôn ngữ hỗn hợp, tác giả tìm hiểu sự hình thành ý thức thông qua những biểu thị ngôn ngữ gắn với quá trình chế tác công cụ lao động ở người nguyên thuỷ . Theo ông, sự khác biệt căn bản giữa vượn người và người là ở chỗ, vượn người chỉ biết sử dụng những vật có sẵn trong tự nhiên như hòn đá, cành cây; còn con người đã biết chế tác chúng thành những vật dụng gọn nhẹ và tiện lợi hơn như ghè hòn đá cho gọn, sắc, nhọn, biến cành cây xum xuê thành gậy gộc dài, ngắn tuỳ thích. Trong quá trình chế tác công cụ lao động, dần dần trong đầu óc con người hình thành  những biểu trưng (symbole) và những âm thanh hay lời nói (langage) để biểu đạt sự vật và công cụ lao động  khi chúng vắng mặt; vậy người là một động vật bậc cao đóng vai trò vừa như là chủ thể chế tác công cụ lao động (homo faber) vừa như là sản phẩm của quá trình đó. Sự hình thành homo faber là một bước trung gian chuyển tiếp lên giai đoạn phát triển cao hơn: homo habilis, tức con người khả năng, con người văn hoá.

Trong phần ba Học thuyết marxist  và học thuyết phân tâm. Những nguồn gốc khủng hoảng Edipe, Trần Đức Thảo đưa ra ý tưởng khác hẳn so với Freud về mặc cảm Edipe. Nếu nhà phân tâm học người Áo đi sâu khai thác hiện tượng loạn luân giữa con trai và mẹ đẻ của mình như là hậu quả  sự kìm nén tình dục có nguồn gốc tiềm ẩn sâu xa từ thời quần hôn nguyên thuỷ, thì Trần Đức Thảo đề xuất phương án dễ chấp nhận hơn, ông cho rằng,  ham muốn loạn luân chỉ có ý nghĩa từ góc nhìn  ngữ nghĩa học, vì từ  “mẹ”, không chỉ theo nghĩa mẹ đẻ mà còn dùng chung cho  cả mẹ vợ. Vậy ham muốn tình dục của người con trai không phải là với mẹ đẻ, mà là với mẹ vợ của mình.

Tuy có những ý tưởng có phần  lạc hậu so với cách nhìn của  giới khoa học châu âu, song Tìm về cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức  đã góp phần khẳng định quan điểm marxist  cho rằng, lao động xã hội là nguồn gốc của ý thức, còn ngôn ngữ là cái vỏ vật chất và hiện thực trực tiếp của tư tưởng. Với tính cách là một biểu trưng bằng lời nói, ngôn ngữ  giúp con người biểu đạt sự vắng mặt của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, làm cho hành vi giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng người  trở nên thuận tiện hơn. Qua tác phẩm này, Trần Đức Thảo cũng đã loại bỏ mẫu người cá nhân Edipe vô thức theo mô hình Freud để khẳng định con người ý thức, con người với tư cách là tổng hoà các quan hệ xã hội (Marx). Tuy nhiên, trên quan điểm phê phán  có sự kế thừa, Trần Đức Thảo không bác bỏ các khái niệm “vô thức”, “tiềm thức”, “bản năng”, “tâm linh” trong phân tâm học. Theo đánh giá của giới học giả thì sự ra đời của tác phẩm này “như là để khép lại một chặng đường trên tiến trình nhận thức và giải quyết vấn đề con người”. Giáo sư Phan Ngọc,  người phản biện công trình này, viết: “Cố gắng của tác giả là chứng minh  ưu thế phương pháp luận marxist trong lĩnh vực triết học, khảo cổ, phân tâm, ngôn ngữ học. Ông đã cố gắng một mình trong những hoàn cảnh không thuận lợi, cách xa tài liệu thế giới” (13, 26)

Suy tư trăn trở về con người đã trở thành thói quen mang tính bản năng khoa học của Trần Đức Thảo từ khi ông còn là một sinh viên cho đến những năm đầu thập kỷ 80; và “chỉ có bầu không khí đổi mới của công cuộc cải tổ” ở Liên Xô, làm cho ông “tự cảm thấy được  giải thoát khỏi các điều cấm kỵ triết học đã điều khiển sự xuyên tạc chủ nghĩa xã hội sau Lênin… một lần nữa cảm thấy sự hăm hở và nhiệt tình bên trong những năm cuối trước đây của thời sống bên Pháp”(2, 15-16). Do vậy, ông mới hiểu rằng, “chế độ chiếm hữu nguyên thuỷ chính là sự trung gian khởi nguồn trong đó hoàn thành sự quá độ lịch sử và vật chất đến ý thức, từ  tự nhiên đến tinh thần” (2, tr.19) - đó là lý do để ông viết một số chuyên luận về chủ đề lịch sử hình thành con người con người mà điển hình là: “La formation de l’homme” (Sự hình thành con người), đăng trên một số tạp chí ở Pháp vào tháng 9 năm 1986; “La naissance du premier homme (Sự phát sinh con người đầu tiên), đăng trên tạp chí  La pensée năm 1986. Năm 2004, Nxb. ĐHQGHN biên dịch các  chuyên luận này, xuất bản thành sách với nhan đề Sự hình thành con người.

Tiếp tục quan điểm đã trình bày trong Tìm về cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức, Trần Đức Thảo cho rằng, lịch sử hình thành con người với tư cách là một cá thể là sự rút ngắn lịch sử hình thành con người nói chung trong hàng chục triệu năm. Ông viết: “Từ khi sinh đến 1 tháng tuổi, trẻ sơ sinh mở mắt ra với cái nhìn không rõ và mơ hồ, điều này gợi lại sự xuất hiện các mắt đơn ở loài Ruột khoang. Đến 2 tháng tuổi, cái nhìn của nó thẳng và rõ ràng, điều này đặt nó vào trình độ của loài Giun. Từ 2 đến 4 tháng tuổi, nó chăm chú nhìn mọi đối tượng đi qua trước nó, điều này gợi nhớ đến động tác quẫy của loài …. 7 tháng tuổi, nằm sấp phần bụng, nó ngóc đầu cao, điều này đặt nó vào trình độ của loài Lưỡng cư và loài Bò sát… 10 tháng tuổi, nó có thể đứng lên, điều này gợi nhớ đến hành vi của loài Động vậtt có vú. ..12 tháng tuổi, nó đạt tới độ tuổi loài Tinh tinh…14 tháng tuổi, nó biết làm động tác chỉ, hành vi này là đặc điểm thuộc về trình độ loài Vượn phương nam … 15 tháng tuổi, xuất hiện bước nhảy vọt cơ bản về chất chuyển từ tính động vật sang tính người  dưới hình thức khởi nguyên của Con người khéo léo (Homo habilis)” (2, tr.30-31). Khi  Người  khéo léo hình thành, giữa  các thành viên bắt đầu phát sinh các quan hệ xã hội mang tính hợp tác, hay là lao động xã hội. ở trình độ Người này, đã xuất hiện “ngôn ngữ của đời sống hiện thực và ý thức khởi nguyên”, đó là nguyên nhân  “làm biến đổi cảm xúc của cơ quan thần kinh thành một cảm xúc tâm lý hay cảm xúc sống trải”, từ đó phát sinh ý tưởng chiếm đoạt và sở hữu đối tượng tự nhiên cũng như đối tượng lao động. Nhưng “Con người khéo léo dường như vẫn chưa vượt qua giới hạn của một cộng đồng nhỏ bé. Chỉ đến giai đoạn Con người đứng thẳng (Homo erectus) mới có sự hợp tác với các cộng đồng láng giềng…Những sự hợp tác này phát triển rộng rãi khi xuất hiện Con người cực kỳ khôn ngoan (Homo sapiens sapiens)”(2, tr.79). Con người khôn ngoan trong tiến trình phát triển lịch sử lâu dài của nó đã chuyển giao những  đặc tính người từ thế hệ này đến thế hệ khác theo cơ chế genetic để tạo nên bản chất nhiều tầng, nhiều lớp ở  con người hiện đại.  “ở thời đại chúng ta - Trần Đức Thảo viết -  hiển nhiên là các quan hệ xã hội tư bản quyết định hình thức chủ yếu của thực tiễn hiện tại, cho nên chúng quyết định bản chất đứng ở hàng thứ nhất, nói một cách khác là tầng thống trị trong toàn bộ bản chất con người. Các di sản đọng lại từ các nền văn minh cổ đại và trung đại bây giờ biểu thị như là bản chất hàng thứ hai nói một cách khác là tầng ngầm bên dưới của bản chất hàng thứ nhất ở các con người hiện tại. Và những di sản của thời cộng đồng nguyên thuỷ  cấu tạo nên bản chất hàng thứ ba hay là tầng sâu nhất của bản chất con người, như là khi nó phân biệt với bản chất động vật. Tuy nhiên, không thể chối cãi rằng con người có một thể xác, khiến cho bản thân  nó vẫn là một động vật, mặc dù nó đã đạt tới bản chất con người  từ 3 triệu năm… kết quả dẫn đến là bản chất động vật hiện diện ở con người như là bản chất đứng ở hàng thứ tư, tức là tầng dưới cùng của bản chất con người”(2, tr.134).

Toàn bộ tiến trình lịch sử hình thành con người từ thời tiền sử đến hiện đại đã được Trần Đức Thảo tái hiện dưới góc độ khảo cứu khoa học liên nghành (khảo cổ, sinh học, tâm lý, lịch sử, kinh tế học, v.v.) phù hợp với dự báo của Marx, cho rằng, mọi khoa học rồi sẽ tích hợp thành khoa học về con người. Cho đến nay ở nước ta, giới lý luận chưa có những công trình giới thiệu và phản biện chuyên biệt về tác phẩm này của Trần Đức Thảo; từ góc độ độc giả, chúng tôi thấy rằng, tác phẩm không chỉ làm tài liệu  tham khảo cho nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, mà còn là cơ sở phương pháp luận cho việc  nghiên cứu con người.

 Công cuộc đổi mới do đại hội VI của ĐCSVN khởi xướng như một luồng gió mát mang đến cho giới lý luận Việt Nam  tinh thần phê phán, tư duy độc lập  và ý tưởng sáng tạo mới. Năm 1988, trong không khí sục sôi của phong trào đổi mới tư duy lý luận, như được tiếp sức bởi tinh thần phê phán của triết học  cổ điển Đứcä, Trần Đức Thảo viết cuốn Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người (Le problème de l’Homme et l’Antihummaníme Theorique); trong đó một mặt ông bác bỏ những lời vu khống của Louis Anthusserävề tính phi nhân bản  (antihumanism) trong chủ nghĩa Mác - Lênin; mặt khác, ông phê phán tư duy siêu hình trong giới lý luận xã hội chủ nghĩa.Theo cách nhìn Trần Đức Thảo thì “chẳng may sau khi Lênin mất, truyền thống  biện chứng của các nhà kinh điển đã yếu đi, do đấy mà sinh ra ngay trong hàng ngũ cách  mạng một xu hướng tư duy theo phép siêu hình… hay phương pháp tư duy siêu hình lấy danh nghĩa biện chứng” (7, tr.60-63). Xu hướng này thể hiện trước hết trong việc nghiên cứu con người “và như thế là vấn đề con người không được công nhận nữa”; hậu quả của việc này là “chủ nghĩa xã hội đã bị méo mó nghiêm trọng ... con người ít được kể đến” (7, tr.57).Ông cho rằng,  trong một thời gian dài chúng ta đã tuyệt đối hoá tính giai cấp trong con người, gắn chặt đời sống hiện thực riêng tư, tế nhị của mỗi cá nhân với đời sống chung tập thể, mà phủ nhận giá trị nhân loại hay tính người nói chung trong  mỗi cá nhân. Bởi vậy, “khi một cá nhân nào đó bị quy oan là mất lập trường giai cấp thì anh ta sẽ không còn chỗ đứng tối thiểu trong hàng ngũ nhân dân, trong xã hội để tự thanh minh cho mình, và cái quyền công dân đối với con người như thế cũng chỉ còn là hình thức” (7, tr.34-36).

Tiếp cận con người từ quan điểm nhận thức luận của Lênin, giáo sư cho rằng, bản chất xã hội của con người nói chung bao gồm hai cấp độ hay hai hàng, “tính giai cấp chỉ là cái bản chất hàng một”, là sản phẩm quan hệ giữa người và người trong đời sống hiện tại (đồng đại), còn “những giá trị nhân bản đứng trong bản chất hàng hai của con người”, nó là sự kết tinh của sự phát triển  lịch sử từ thời nguyên thuỷ đến hiện tại (lịch đại). Để giải thích rõ vấn đề đã nêu, ông viết: “Trong những quan hệ hoạt động cụ thể, tác động lẫn nhau, bản thân con người cách  mạng là con người giai cấp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đồng thời cùng con người cách  mạng ấy là… con người nói chung với những đòi hỏi giá trị lý tưởng phổ cập của nó” (7, tr.45). “Mỗi người là bản thân nó, con người giai cấp, và đồng thời là cái khác, tức con người nhân cách, với những xu hướng đòi hỏi, giá trị tinh thần đã sinh ra và phát triển từ thời cộng sản nguyên thuỷ, và tái lập lại ít hay nhiều, dưới hình thức này hay hình thức khác trong sự giáo dục xã hội từ tuổi mới biết nói và đúc kết thành nhân cách của mỗi cá nhân ngày nay. Đó là những  đòi hỏi công bằng, bình đẳng, chính trực và chính nghĩa, tự do và chân lý làm cho mỗi cá nhân nhận thấy là mình và tôi, là con người theo nghĩa chung của loài người” (7, tr.55). Trên cơ sở lập luận như vậy, giáo sư cho rằng, “chủ nghĩa xã hội theo quan điểm siêu hình đã biểu hiện như tuyệt đối loại trừ xã hội chung của loài người, tức là xoá bỏ sự tiến bộ xã hội chung của lịch sử loài người. Theo như thế thì con người giai cấp của xã hội xã hội chủ nghĩa hoàn toàn gạt bỏ con người nói chung phát triển trong toàn diện lịch sử loài người” (7, tr.62); nếu vậy thì vô tình biến con người xã hội chủ nghĩa thành một thực thể người hoàn toàn xa lạ với mẫu người truyền thống và hiện đại. Trong  lúc đó, cần phải hiểu rằng, dù tồn tại ở thời đại nào, chế độ xã hội nào thì con người bao giờ cũng chỉ là sản phẩm một giai đoạn  phát triển của lịch sử, của giới tự nhiên và là một phần của nhân loại. Do vậy, “không có vấn đề vì con người giai cấp mà phủ định con người nói chung” (7, tr.50).

Từ phương pháp luận đúng đắn đó, giáo sư đề xuất quan điểm cho rằng, phong trào chống tiêu cực hiện nay phải gắn liền với cơ chế dân chủ và vấn đề con người theo nghĩa loài người, chứ không phải con người giai cấp một chiều; có như vậy mới tránh được tình trạng trù dập, quy oan. Bởi “chính tình trạng khiếp sợ bị quy oan làm cho nhiều người không dám hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và chính phủ đấu tranh chống tiêu cực” (7, tr.38). Không chỉ có vậy, theo sự lý giải của Trần Đức Thảo thì “phương pháp siêu hình lấy danh nghĩa “biện chứng” đã gạt bỏ quan điểm con người theo nghĩa chung của lịch sử loài người, con người lịch sử theo nghĩa phổ cập cụ thể, tức là cái hệ thống biện chứng lịch sử của toàn thể loài người bao hàm tất cả những sự khác biệt, mâu thuẫn, đối kháng, giữa các giai đoạn, các tập đoàn xã hội và các cá nhân riêng lẻ. Do không kể đến cái cơ bản chung của xã hội và con người nên đã sinh ra những khó khăn không giải quyết được, làm nguồn cho những bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí” (7, tr.83-84) -  đây là những căn bệnh phát sinh ban đầu ở Liên Xô vào những thập kỷ 50 và từ đó lan tràn sang các quốc gia xã hội chủ nghĩa khác trong đó có Việt Nam. Những căn bệnh này do không chữa trị kịp thời, để lâu ngày nên  trở thành mãn tính, ăn sâu vào tiềm thức các chính trị gia cũng như giới lý luận, gây nên lực cản không nhỏ trên bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà mãi đến Đại hội V (3 -1982) Đảng mới tìm ra triệu chứng; đến đại hội VI (12-1986), Đảng  đã đề ra công cuộc đổi mới tư duy mà thực chất là khắc phục lối suy nghĩ giản đơn, tư duy siêu hình đơn tuyến, hạn chế và đi tới loại bỏ các căn bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, đưa phương pháp nhận thức biện chứng trở về với nghĩa thật ban đầu của nó; bởi vì chỉ có phép biện chứng mới có thể cứu triết học và khoa học khỏi những khủng hoảng.

Viết và suy tư về con người, về thân phận và đời sống nội tâm của nó, về sự thăng trầm của nhân tình thế thái dường như đã trở thành định mệnh cuộc đời Trần Đức Thảo.

Vận dụng triết học Mác - Lênin thế nào cho đúng là cuốn sách gồm hai phần độc lập, trong phần một với tiêu đề: Một số vấn đề cần phát triển trong triết học Mác - Lênin, Trần Đức Thảo tập trung phê phán một số sai lầm chủ quan, siêu hình trong tư duy triết học Việt Nam đối với việc nhận thức các vấn đề về mối quan hệ giữa lượng và chất, giữa  cái chung và cái riêng. Theo giáo sư, từ trước đến nay chúng ta chỉ quan tâm đến sự chuyển hoá một chiều từ lượng thành chất mà ít để ý đến chiều ngược lại. Do vậy dễ mắc căn bệnh thành tích, chỉ chú trọng đến việc tăng số lượng (sản phẩm, năng suất lao động, người đi học) một cách chủ quan nóng vội, mà không thấy hết vai trò của  yếu tố chất lượng đối với việc tác động trở lại làm tăng trưởng số lượng. Tổng kết lịch sử phát triển của chủ nghĩa xã hội, Trần Đức Thảo viết: “Trong hơn 60 năm qua, đi đôi với quy luật biến số lượng chuyển thành chất lượng, chúng ta đã coi nhẹ, thậm chí có khi hoàn toàn bỏ rơi quy luật ngược lại, là biến chất lượng chuyển thành số lượng” (9, tr.6), trong khi đó quy luật này đã được Lênin vận dụng  rất sáng tạo khi đưa ra  NEP. Nhưng thật đáng tiếc là trong một thời gian dài, vì nhiều lý do khác nhau NEP không được các chính khách hậu duệ của Lênin vận dụng. Mãi đến cuối thập kỷ 80,  “sự phân tích của Đảng cộng sản Liên Xô về yêu cầu của cải tổ, làm sáng tỏ rằng: do quan niệm cái chất lượng xã hội chủ nghĩa ở hình thái thực tại là đủ để quy định chất lượng của cả hệ thống lịch sử xã hội chủ nghĩa, nên những người kế thừa Lênin đã kéo dài liên miên cơ chế mệnh lệnh bao cấp, đồng thời lại xuất hiện tư tưởng nóng vội, như đòi tiến lên chủ nghĩa cộng sản ngay từ những năm 1952... Từ những kinh nghiệm đó, đối chiếu với quy luật biện chứng số lượng biến thành chất lượng và ngược lại, chúng ta càng thấy rõ hơn nguyên nhân sai lầm của thời gian trước đây, chính là do không theo đúng quy luật khách quan” (9, tr.8-9).Tư tưởng trên của Trần Đức Thảo có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với nền giáo dục Việt Nam hiện đại. Do chịu ảnh hưởng của bệnh thành tích nên từ trước đến nay chúng ta không chú ý nhiều đến chất lượng giáo dục - đào tạo, hậu quả là  phải gánh chịu không ít những khó khăn bất cập trong quá trình  chuẩn bị nguồn nhân lực cho công cuộc hiện đại hoá, công nghiệp hoá cũng như việc gia nhập các tổ chức quốc tế và hoà nhập vào làn sóng toàn cầu hoá.

Về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giáo sư Trần Đức Thảo phê phán quan điểm siêu hình cho rằng, “chỉ có cái riêng mới là sự vật  cụ thể. Còn cái chung thì chỉ là một thuộc tính chung, tức là trừu tượng”. Trong  khi đó theo ông thì “với tư cách là hệ thống, mỗi sự vật là một cái chung cụ thể bao gồm vô số những cái riêng là cái bộ phận riêng…như trong xã hội Việt Nam thì dân tộc Việt Nam là cái chung. Trong cái chung ấy, có những cái riêng, là các giai cấp, các tập đoàn, các cá nhân người Việt Nam ...Theo quan điểm Mác, Engels và Lênin, thì cái chung không phải chỉ là trừu tượng, mà còn là cụ thể. Nó không phải là thuộc tính chung, mà còn là thực thể chung. Tức là mỗi sự vật là một cái riêng, đồng thời nó cũng là một cái chung, cái hệ thống chung của những bộ phận riêng của nó” (9, tr.21, 30). Vấn đề lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin rõ ràng là như vậy, nhưng “thời gian sau Lênin, quan điểm hệ thống lịch sử của các nhà kinh điển đã bị ít nhiều quên đi, do đấy mà trong công tác triết học, vấn đề quan hệ giữa cái chung và cái riêng, bị hướng về phía siêu hình, coi như chỉ có cái riêng là cụ thể, còn cái chung chỉ là thuộc tính chung, tức là trừu tượng, không có cái gì là chung cụ thể” (9, tr.26). Hậu quả mà đời sống thực tế của các quốc gia xã hội chủ nghĩa phải gánh chịu là “người ta chỉ nhìn thấy mỗi nước xã hội chủ nghĩa là thực thể, và là thực thể riêng lẻ. Còn cái chung thì chỉ là những thuộc tính hay quy luật chung trừu tượng của những cái thực thể riêng lẻ ấy. Luận quả là tựa hồ như mỗi nước phải thực hiện đầy đủ những quy luật ấy như nhau. Nếu có một nước không thực hiện được về một mặt nào đấy, vì những điều kiện riêng của mình, thì sinh ra một tình trạng bế tắc siêu hình: hoặc là bắt buộc phải thực hiện với bất cứ giá nào, hoặc là ly khai” (9, tr.32). Đúng như lời cảnh báo này của Trần Đức Thảo, tình trạng ly khai như một căn bệnh xã hội truyền nhiễm đã diễn ra một cách ồ ạt ở Liên Xô và đông âu vào những năm đầu thập kỷ 90, và như một lẽ tất yếu, chủ nghĩa xã hội ở đây đi đến hồi kết một cách đột ngột, nhanh chóng tựa như tiếng sét giữa trời xanh.

Phần thứ hai của cuốn sách là bài viết có tính phê phán dưới tiêu đề: Cái gọi là “tấm bảng chỉ đường của trí tuệ” đi ngược lại tư duy biện chứng của lý trí; đây là bài mang tính bút chiến, trong đó giáo sư Trần Đức Thảo  đưa ra nhiều bằng chứng lịch sử hiện thực để phản bác quan điểm chính trị cơ hội nấp dưới chiêu bài “giải bài toán logic xã hội” của tác giả bài báo Dắt tay nhau đi dưới tấm bảng chỉ đường của trí tuệ. “Say sưa với phép siêu hình máy móc quen thuộc trong khoa học tự nhiên, lại cho rằng, cả trong vấn đề xã hội thì cũng cứ phải loại trừ mâu thuẫn, coi mâu thuẫn theo quan điểm siêu hình, logic hình thức, như cái gì “nghịch lý”, không thể nào dung túng được” (9, tr.41), tác giả bài “Dắt tay nhau…” đòi xét lại một số luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách  mạng vô sản, về giai cấp và đấu tranh giai cấp; qua đó  thực hiện mưu đồ thẩm định lại sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân rồi đi đến phủ nhận luôn cả sự lãnh đạo của ĐCSVN. Lợi dụng những khó khăn trong đời sống kinh tế - xã hội ta những năm đầu thập kỷ 80, tác giả bài báo  rêu rao rằng, xã hội Việt Nam  “chứa đựng quá nhiều “nghịch lý”, nếu chưa muốn nói là cấu thành bởi toàn những “nghịch lý”, ví dụ như: nói dân chủ, mà lại thiếu dân chủ, nói là duy vật, mà lại duy ý chí, nói là đề cao những giá trị tinh thần, mà lại xuống cấp đạo đức, nói lấy năng suất lao động làm nhân tố quyết định, mà lại thua năng suất của xã hội tư bản” (9, tr.41). Phê phán cái nhìn nhất thời, tư tưởng lệch lạc và lối tư duy siêu hình trên, cây bút chính luận Trần Đức Thảo đã thẳng thắn vạch ra rằng, sai lầm cơ bản của tác giả bài báo là “chỉ nhìn thấy các mâu thuẫn của xã hội ta ở trạng thái  tĩnh, không trông thấy hoạt động giải quyết mâu thuẫn của đảng và nhân dân, kiên quyết thực hiện đổi mới trong điều kiện ổn định chính trị. Do đấy mà tác giả chỉ hình dung toàn những sự  đối lập xoay tròn, biến thành những “nghịch lý” theo lối siêu hình máy móc, tức là cứ diễn cái mặt tiêu cực của  chúng, mà coi như không có lối thoát trong chủ nghĩa xã hội” (9, tr.42). Thực tế sau hơn  20 năm đổi mới ở Việt Nam đã chứng minh một cách thuyết phục rằng, không chỉ tìm được lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội mà hơn thế, “chúng ta đã thành công vinh quang, vì xuất phát từ nhân dân và dân tộc, có sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và đảng Mác - Lênin, do Chủ Tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Những thiếu sót, khuyết điểm, khó khăn có một phần vì khách quan, một phần vì chủ quan, trong một số trường hợp đã hiểu sai hoặc vận dụng không đúng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin. Những nguyên lý này hoàn toàn là đúng, là chỗ dựa để sửa chữa sai lầm và thiếu sót” (9, tr.75).

Sau cuốn  Vận dụng triết học Mác - Lênin thế nào cho đúng, tuy tuổi cao, song vị giáo sư già yếu  ở tuổi bát tuần vẫn ấp ủ ý định viết  một công trình mớí về triết lý nhân sinh - đó là lý do để năm 1992, nhà nước Việt Nam tạo điều kiện cho ông đi Paris vừa dưỡng bệnh vừa tham khảo tài liệu viết  tác phẩm La logique du present vivant (Logic của cái sống động hiện tại); nhưng việc chưa  thành thì ông ngã bệnh và qua đời tại Paris ngày 19/4/1993.

Suốt cuộc đời  “thật buồn mà đẹp” của mình,  giáo sư Trần Đức Thảo viết  và suy tư về nhiều lĩnh vực: văn học, ngôn ngữ, tôn giáo, giải phẩu sinh lý, lịch sử, khảo cổ, triết học, v.v. song tất cả mọi vấn đề cuối cùng cũng trở về với  đề tài chính là con người. Trong tâm tưởng  ông luôn thường trực các câu hỏi: Con người là gì? Quá trình tiến hoá của con người trong lịch sử diễn ra như thế nào? Ngôn ngữ và ý thức được hình thành trong con ngườira sao? Cần phải làm gì để bảo vệ quyền dân chủ, đảm bảo quyền tự do và nâng cao vị thế con người?. ở con người trầm lặng, nặng về ý thức  hướng nội Trần Đức Thảo có  “một nỗi ám ảnh khôn nguôi: làm sao một ngày kia, liên hợp được những cội rễ vật chất, sinh vật, lịch sử, xã hội của con người với ý thức tự do của nó” (13, tr.67). Với dòng  suy tưởng đó, triết gia tự bạch: “Khi tự vấn mình, ý thức đòi hỏi cái Thiện trong hành động, cái Chân trong tri thức, và cái Mỹ trong sự hoàn thành các quá trình nghiệm sinh, qua đó ý thức biến thế giới tự nhiên thành một nhân giới, xứng đáng với con người” (10, tr.69).. Đây là những dòng triết lý hay và ngắn gọn của ông về con người, đồng thời cũng là triết lý sống  của  ông - một triết lý thấm đượm tính nhân văn cổ điển,  đúng như lời nhận xét của  nhà nghiên cứu văn hoá Đỗ  Lai Thuý: “Cái nhìn con người của nhà triết học Trần Đức Thảo vẫn nằm trong dòng cổ điển của chủ nghĩa nhân văn… con người tuy đã được thể hiện như một cá thể, tồn tại ở mọi cạnh khía khác nhau của đời sống, nhưng xét cho cùng, vẫn dừng lại ở cấp độ xã hội, con người là tập hợp các quan hệ xã hội. Đó là con người khách thể, đối tượng của sự nhào nặn theo một mục tiêu lý tưởng nào đấy, chứ chưa phải là con người - chủ thể, tự cải tạo theo yêu cầu của cuộc sống  trong những giới hạn có thể” (11, tr.149).

 Mẫu người mang tính nhân văn cổ điển mà tính cách điển hình được hình thành trong hoàn cảnh điển hình như vậy không có gì sai, song vấn đề là ở chỗ, nó không phản ánh một cách chân thành, sát thực xu thế phát triển đa dạng đa chiều của thời hiện đại, một thời đại vốn đang tồn tại nhiều mâu thuẫn, nhiều quan niệm và lý tưởng sống trái chiều, xung đột. Không đi theo lối mòn truyền thống của chủ nghĩa nhân văn cổ điển, chủ nghĩa nhân văn mới trong Nhân học, Văn học - nghệ thuật, Tâm lý học  hiện đại  đã và đang tìm kiếm,  xây dựng một mẫu người dám chấp nhận cả cái hợp lý lẫn phi lý, cả những hành vi ý thức lẫn vô thức, sống theo phong tục truyền thống nhưng cũng không kém phần sáng tạo hiện đại -  một mẫu người  như vậy may ra mới phản ánh đúng đời sống hiện thực  sinh động trong thế giới hiện đại.

Ngày nay, khi đang hưởng thụ thành quả công cuộc đổi mới, đọc lại trước tác của giáo sư Trần Đức Thảo viết vào những năm tháng khó khăn nhất của đất nước, chúng ta mới thấy hết giá trị thời sựnhững lời lẽ phê phán sắc bén, ý nghĩa thực tiễn của   những gợi ý đầy sáng tạo và tầm nhìn lịch sử trong những dự báo tương lai của ông. Bản thân tôi, người  ít nhiều đọc các trước tác ấy rất tâm đắc lời bình của  nhà văn Phùng Quán: “Cái chết là một điều khủng khiếp. Không ai không nguyền rủa cái chết. Nhưng lần này tôi phải tạ ơn cái chết. Vì  một lẽ, nhờ cái chết mà tôi và rất nhiều người khác trong nước, qua các báo chí: Nhân dân, Văn nghệ, Giáo dục và Thời đại…được biết rằng, đất nước chúng ta đã từng sinh ra một triết gia tầm cỡ quốc tế ” (13, tr.75). Đọc lời bình đó, tôi bất chợt nghĩ đến câu: “Cái chết là thiên tài gây cảm hứng cho triết học” (Socrate).“Con người chắc gì đã triết lý nếu không có cái chết. Chúng ta biết rằng, cái chết là tất yếu, song chúng ta vẫn đặt cho mình các mục đích nào đó, cố gắng thổi căng bong bóng xà phòng mặc dù biết rõ là nó sẽ nổ” (Schopenhauer). Là triết gia duy lý, Trần Đức Thảo không lạ gì những câu nói có nội dung tương tự, song  không vì thế mà ông mảy may một lần nản chí; trong những hoàn cảnh khó khăn của đất nước, bi đát nhất cả về vật chất lẫn tinh thần của cá nhân, ông vẫn ung dung, tự tại,  “không chìm đắm trong tụng niệm”, không ngừng suy tư trăn trở trước cuộc đời và không dừng cây viết; bởi vì, đối với  những người có phẩm chất noblesse* như ông thì những gì  diễn ra trong cuộc đời đơn giản chỉ  là sự an bài của số phận.

Đánh giá công lao của Trần Đức Thảo, tiến sĩ Đỗ Lai Thuý trong lời tựa cho cuốnTìm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức đã viết: ''Hành trình triết học của Trần Đức Thảo đi từ hiện tượng luận của Husserl đến chủ nghĩa duy vật biện chứng, rồi lại từ chủ nghĩa duy vật biện chứng đến chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đấy cũng là con đường của một số trí thức lớn của  Pháp, nhưng về sau họ đều xét lại tín điều của mình...Duy Trần Đức Thảo vẫn trung thành với nó đến hơi thở cuối cùng. Ông là một nhà triết học trung kiên của chủ nghĩa Mác - Lênin...Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù khó khăn vật chất hoặc tinh thần, không làm ông suy tư về triết học...đóng góp lâu dài của Trần Đức Thảo cho học thuật Việt Nam, trước hết thể hiện một năng lực tư biện cao, sau đó là khả năng biết đặt và giải quyết những vấn đề cơ bản của khoa học, phương pháp luận nghiên cứu liên nghành'' (4, tr.17- 18).

Sự nghiệp khoa học và cuộc đời hoạt động cách  mạng của Trần Đức Thảo theo suốt cả hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Người ta đánh giá vị Giáo sư này theo nhiều quan điểm chính trị khác nhau, điều đó hoàn toàn phù hợp với logic và biện chứng của cuộc sống. Còn ông, không thanh minh và cũng chẳng trách ai, cứ lặng lẽ, cần mẫn như con ong trong rừng hút phấn hoa dại để tạo nên mật ngọt, như con trai dưới đáy đại dương, lọc các tinh chất từ nước đục làm nên ngọc quý.Suốt cả cuộc đời,Trần Đức Thảo sống một cách cô đơn, trầm lặng, luôn suy tư về đời sống con người, về nhân tình  thế thái.Và dường như, trong tâm tưởng ông, bóng dáng Hegel, Marx, Husserl chẳng lẩn khuất bao giờ.

Tài liệu tham khảo

1. Trần Đức Thảo, Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội 2004, tr.13.-14.

2. Trần Đức Thảo,Sự hình thành con người, Nxb. ĐHQGHN  2004

3. Trần Đức Thảo, Lịch sử tư tưởng trước Marx, Nxb. Khoa học xã hội, 1995, tr.39

4. Trần Đức Thảo, Tìm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức, Nxb. Văn hoá thông tin, 1996.

5. C. Mác và Ph. Engels, toàn tập, Nxb. CTQG  Hà Nội 1995, t. 20.

6. G. N. Machusin, Nguồn gốc loài người, Nxb. Khoa học kỹ thuật, Hà Nội 1982.

7. Đức Thảo, Vấn đề con người và chủ nghĩa “lý luận không có con người”, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh  2000.

8. Du Thuý, Mùa đông và mùa xuân Matxcơva - chấm dứt một thời đại, Nxb. CTQG 1995.

9. Trần Đức Thảo, Vận dụng triết học Mác - Lênin thế nào cho đúng, Nxb. Sự thật, Hà Nội 1991.

10. Trần Đức Thảo, Một hành trình, Paris 1992,

11. Đỗ Lai Thuý,  Chân trời có người bay, Nxb. Văn hoá thông tin 2006

12. Lê công Sự, Giáo sư Trần Đức Thảo  với cuộc hành trình từ hiện tượng luận Husserl đến chủ nghĩa duy vật biện chứng, in  trong Tư tưởng triết học Việt Nam trong bối cảnh du nhập các tư tưởng đông - tây, Nxb. ĐHQGHN 2006.

13. Nhiều tác giả, Triết gia lữ hành Trần đức Thảo, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006.

14. Lê Công Sự, Con người qua lăng kính triết gia, Nxb. CTQG 2012.
 


*Thuật ngữ sống trải là chúng tôi mượn của Trần Đức Thảo, trong Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng ông rất hay dùng thuật ngữ này.

äTrong Lời nói đầu cho tác phẩm Sự hình thành con người, Trần Đức Thảo viết:''Tôi đã được  làm quen với M. Merleau Ponty năm 1941 ở phố Ulm khi ông trở lại năm đầu làm thạc sĩ phụ đạo tại Trường đại học sư phạm Paris.Ông đọc cho chúng tôi nghe các trích đoạn trong luận án của ông chuẩn bị về hiện tượng học tri giác, và thường nói rằng tất cả sẽ đi đến một sự tổng hợp giữa Husserl, Hegel và Marx''

äThành quả quan trọng nhất mà triết học cổ điển Đức đạt được là phê phán tư duy siêu hình trong triết học trước đó. Xem thêm, Lê Công Sự, Triết học cổ điển Đức, Nxb. Thế giới  2006

äLouis Anthusser (1918 - 1990), nhà triết học người Pháp, trong tác phẩm cơ bản của mình: “Đọc tư bản” (1965), ông có tham vọng muốn đổi mới việc nghiên cứu chủ nghĩa Marx bằng việc  kết  hợp nó  với chủ nghĩa cấu trúc   mà người đạt nền móng là Levis Strauss.

*Cao thượng chữ của Trần Văn Giàu trong Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo, tr. 31.