Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop

Việt Nho qua một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam

Đã xa rồi cái thời thường coi Nho giáo là ngoại nhập / phản động, là không thể hòa nhập với tư tưởng Việt. Nhưng cũng chưa có nhiều thành tựu nghiên cứu thật cơ bản để có thể khép lại thời xem Nho giáo thực sự là một thành phần tư tưởng quan trọng, tích cực, có thể tồn tại, hoà hỗn cùng / với tinh thần dân tộc Việt vốn có nhiều yếu tố phi / phản Nho. Một số bài bản nghiên cứu các vấn đề có tầm vĩ mô hoặc vi mô về Nho giáo thời trung đại hấp dẫn và độc đáo, dường như vẫn đang tiếp bước đoạn trường mà Quang Đạm, Nguyễn Khắc Viện đặc biệt là Trần Đình Hượu(2) đã một thời khai sáng.

Lần này, xin được xem bài viết này là sự bộc bạch những cảm nghĩ qua một số tác phẩm văn học thời trung đại ở Việt Nam. Từ Việt Nho từng xuất hiện trước đây, nhưng với tôi, danh ngữ này được hiểu theo hai tiêu chí. Một là tác phẩm phải có tố chất Nho từ thời Khổng Mạnh qua Hán Nho, Tống Nho..., tức Nho giáo thời cổ trung đại ở Trung Quốc, xin được gọi là Khổng Nho hoặc Hán Nho cho giản tiện. Hai là tác phẩm phải có bản chất Việt, tức tư tưởng Việt, phi Nho giáo, phát triển từ tiền sử, qua Bắc thuộc và hiện hữu thời trung đại qua văn hóa, văn học dân gian. Hai thành phần Hán Việt phân biệt, điều hòa, kết hợp, chuyển hóa với nhau, hoặc nổi nên dễ thấy, hoặc chìm sâu khó nhận. Nhưng lại thống nhất ở một xuất xứ, một diện mạo, một dạng ngôn từ nghệ thuật, để qua văn bản là tâm tư, cảm xúc thấm đậm chất Việt Nho. Tất nhiên, cùng với Khổng Nho còn có Lão Trang, cùng với tư tưởng Việt còn có Việt Phật. Và một bên là Hán Nho, một bên là tư tưởng Việt có cả yếu tố đối lập không thể dung hòa, hoặc hòa đồng mà khó phân biệt. Thơ văn chứa chở tư tưởng này không khó thấy khi đi vào những áng văn chương cụ thể. Trước hết là bài:

NAM QUỐC SƠN HÀ
(Khai sáng tư tưởng Việt Nho)

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Đại Việt sử ký toàn thư).
(Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự,
Sách trời định phận rõ non sông.

Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm,
Bay hãy chờ coi, chuốc bại vong !)
(Ngô Linh Ngọc dịch)

- Về xuất xứ, bài thơ trích xuất từ một truyền thuyết lịch sử, kể chuyện Trương Hống, Trương Hát, con Long thần họ Trương sinh sống dị kỳ, ngôn hành quái kiệt, theo giúp Triệu Quang Phục chống ngoại xâm. Sau Triệu Quang Phục thất bại trước Lý Phật Tử, hai ông tự vẫn, giữ tiết với chủ cũ. ở cõi ảo, hai ông được Trời phong thần, từng đằng vân giá vũ về cõi thực trợ giúp người đời, trong đó có hai lần đọc thơ âm phù Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt chống Tống thắng lợi. Bài thơ là thành phần cơ hữu của truyền thuyết, một thể loại văn học dân gian chứa chở nhiều yếu tố tưởng tượng, kỳ ảo, nhằm thần linh hóa, lý tưởng hóa tình tiết, nhân vật để thể hiện ý thức lịch sử của nhân dân. Tình tiết âm phù xoay quanh bài thơ, xét cho cùng chỉ là sự hiện diện của truyền thống bằng hình thức huyền ảo. Cho nên gần đây, bài thơ được mệnh danh là Thơ thần cũng rất tinh tường, ý vị. Thơ thần thì cũng do người làm ra thôi. Người đây là các thế hệ trí thức đầu thời tự chủ, không phải là Lý Thường Kiệt như người ta từng lầm, và sách giáo khoa thì phân vân nghi ngại(2). Bài thơ nằm trong một truyền thuyết nên mang tính chất một tác phẩm dân gian, nhưng tách riêng thì là bài thơ chữ Hán, do trí thức viết ra, tất có thêm tính chất bác học, nên có thể mang dáng vóc một tác phẩm dân gian bác học, hay nhân gian thế gian bác học thì đúng hơn. Văn học trung đại nước ta không hiếm lắm tác phẩm có tính chất này. Như vậy Bài Thơ thần có xuất xứ, tác giả và cả thể loại thấm đậm bản sắc văn hóa Việt.

- Bài thơ cả quyết quyền ngự trị sông núi nước Nam là của vua Nam. Dám khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước Nam nhỏ bé bên cạnh nước Bắc to lớn như thế chỉ có thể là Trời. Trời ở đây ẩn trên thiên thư, nhưng cũng có hàng chục văn bản có từ Hoàng thiên ở đầu câu thứ hai (Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư). Trời theo Khổng Nho là vô hình, linh diệu, chủ tể của vũ trụ, lấy thiên mệnh, thiên lý, thiên ý, thiên uy điều phối biến hóa việc thế gian, quyết định phận số cho muôn loài. Trời và Người là "tương dữ ", "hợp nhất", "thông đạt". Trời nhìn nghe qua dân nhìn dân nghe, Trời thương dân, dân muốn là trời muốn... Vua thay trời trị dân thống nhất thiên ý dân tâm. Vua trị dân theo ý trời thì yên ổn, được mùa, trái ý trời thì trời ra tai, trời nổi can qua v.v... Cả mớ lý luận về Trời, Khổng Nho thường hay dùng danh ngữ Thiên mệnh, được người Việt tiếp biến theo quan niệm "thực dụng", chỉ cốt làm rõ: Nước Nam là của Vua / người Nam, đó là ý Trời, kẻ nào xâm lược nước Nam là trái nghịch ý Trời, là chống lại xu thế phát triển tất yếu của lịch sử, tất sẽ bại vong. Nhân sĩ thời Ngô, Đinh, Lê, Lý lấy Trời hộ mệnh cho ý thức tự chủ của Người; thiêng hóa độc lập, chủ quyền, sát hợp với tâm thức người đời, lời thơ như mang sứ mạng của đất trời, ngân vang của thần thánh, xứng đáng là bước thăng hoa của tư tưởng Việt Nho.

- Yếu tố Việt Nho tạo nên giá trị của bài thơ còn thể hiện qua những lời thơ chống chủ nghĩa bá quyền đại Hán tộc. Các đế chế Trung Hoa rồi Khổng học từ xưa, thường lấy lời thơ trong bài Bắc Sơn sách Kinh Thi làm yếu chỉ cho chủ nghĩa bá quyền: "Phổ thiên chi hạ mạc, phi vương thổ, suất thổ chi tân, mạc phi vương thần" (Cả gầm trời không đâu không phải đất của vua, khắp bốn biển không ai không phải bề tôi của vua). Vương, sau đổi là đế sở hữu toàn bộ đất đai, thần dân trong thiên hạ. Chỉ Trung Hoa mới có đế, các nước xung quanh chỉ là tứ di phiên thuộc, chư hầu, không được xưng đế. Được tiếng khiêm nhường như Hán Văn Đế mà còn gửi thư trách Triệu Đà tiếm xưng hoàng đế, đi xe hoàng ốc, cắm cờ tả nghi, vốn là nghi vệ chỉ dành cho hoàng đế ở Trung Hoa. Cái thói ngạo mạn ấy không phải khi nào cũng khuất phục được các nước láng giềng. Xa như Nhật Bản vẫn thấy ngang hàng với vua Tùy trong quốc thư năm 607: "Nhật xuất xứ thiên tử chí thư, nhật một xứ thiên tử. Vô dang" (Nhật Bản Linh dị ký) Nghĩa là: (Thiên tử xứ [nước] mặt trời mọc gửi Thiên tử xứ [nước] mặt trời lặn. Chúc sức khỏe). Gần như nước Việt, từ giữa thế kỷ thứ VI đã xưng là Lý Nam Đế. Đến thời tự chủ, nhân sĩ Đại Việt lại tái xuất ý thức quốc gia vào nhãn tự Nam và Đế của bài thơ. Vẫn với quan niệm như xưa, song dõng dạc tuyên bố: Nam có Nam Đế, Bắc có Bắc Đế, Nam đế làm chủ phương Nam, cũng như Bắc đế làm chủ phương Bắc, Nam Bắc bình đẳng, không ai thống trị được ai. Ý tứ trên về sau được Nguyễn Trãi nâng cao theo chiều dầy lịch sử:

“Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc
Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương”.
(Bình Ngô đại cáo)

Với giá trị một bản Tuyên ngôn độc lập, Tuyên ngôn chống bá quyền, bài thơ thần Nam quốc sơn hà là kiệt tác khai sáng tư tưởng Việt Nho, và có thể cùng với Quốc tộ của Đỗ Pháp Thuận là hai kiệt tác xưa sớm nhất của văn học dân tộc.

*
**

DÙNG ĐAO BÚT VIẾT CHỈ THƯ(3)
(Quan niệm văn chương Việt Nho)

Trí qua mười mới khá rằng nên,
Ý lấy Nho hầu đấng hiền.
Đao bút phải dùng tài đã vẹn,
Chỉ thư nấy chép việc càng chuyên.
Vệ Nam mãi mãi ra tay thước,
Điện Bắc đà đà yên phận tiên.
Nghiệp Tiêu Hà làm khá kịp,
Xưa nay cùng một sử xanh truyền.

Bài thơ này Nguyễn Trãi viết khi đang được Lê Lợi tín nhiệm trao cho công việc từ hàn (Hàn lâm viện Thừa chỉ) và trọng trách quản lý Nhà nước (Lại bộ Thượng thư). Nguyễn Trãi cho rằng ông đã dựa vào Nho, dùng trọn vẹn tài văn bút để bảo vệ nước Nam, dẹp yên giặc Bắc, giúp vua chế định điển chương, pháp độ, hình chính, lễ nhạc, như Tiêu Hà giúp Hán Cao Tổ. Nguyễn Trãi tin rằng lịch sử sẽ lưu truyền sự nghiệp của ông cũng như sự nghiệp của Tiêu Hà.

Nguyễn Trãi quả là đã có ý thức tự giác dùng văn chương như một vũ khí chiến đấu cho sự nghiệp bình Ngô. Nguyễn Trãi lại cũng có tinh thần tự nhiệm của một bậc tài trí kinh bang tế thế như Tiêu Hà trong sự nghiệp trị quốc an dân. Ý thức tự giác về tính chiến đấu của văn chương, tinh thần tự nhiệm về trách nhiệm xã hội của trí thức - nhà văn ấy chính là quan niệm văn chương Việt Nho của cả thế hệ hiền Nho (Ý lấy Nho hầu đấng hiền, tức là: Dựa vào đạo Nho ngõ hầu mới là người hiền) như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Lê Thiếu Dĩnh, Vũ Mộng Nguyên, Trần Thuấn Du, Phan Phu Tiên, Nguyễn Thiên Tích... thời đại bình Ngô phục quốc. Nguyễn Trãi còn nhiều vần thơ, lời văn, thể hiện quan niệm văn chương, lễ nhạc theo tiêu chí Việt Nho. Lệ như lời tâu về Nhạc: "Thời loạn thì dùng võ, thời bình thì dùng văn, ngày nay định ra lễ nhạc là phải thời lắm. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc... Dám mong bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăm nuôi muôn dân, khiến trong chốn thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu, đó là giữ được cái gốc của nhạc vậy". Hoặc như "Văn chương chép lấy đòi câu thánh. sự nghiệp tua gìn phải đạo trung. Trừ độc trừ tham, trừ bạo ngược. Có nhân, có trí, có anh hùng" (Bảo kính cảnh giới 5) v.v... Lời tâu trên cho rằng: văn nghệ, ở đây là âm nhạc có gốc ở đời sống của trăm họ, muốn văn nghệ phát triển thì phải tài bồi gốc ấy. Lời thơ dưới khẳng định: văn chương phải lấy chuẩn từ sách thánh Nho, từ đạo trung dung; nhưng lại phải gắn với hành vi "trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược" và phẩm chất "có nhân có trí, có anh hùng". Thật, khó thấy ở đâu hơn chức năng của văn nghệ lại được hiểu sâu sắc, chuyên biệt và cho đến nay vẫn còn giàu ý nghĩa hiện đại như thế.

Nguyễn Mộng Tuân, đồng khoa, đồng liêu, thi hữu của Nguyễn Trãi, tôn Nguyễn Trãi lên bậc "Thái Sơn, Bắc Đẩu", "nhất thời văn bá", với tài "kinh bang hoa quốc cổ vô tiền" là đã thấy thành tựu văn chương vô giá của Nguyễn Trãi. Thành tựu "thế gian vô" ấy lại được Lê Thánh Tông, một hoàng đế hùng tài, đại lược" vị thế hóa đưa vào tập quốc thi Quỳnh uyển cửu ca:

Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo
(Lòng Ức Trai rạng tỏa văn chương)

Tôi dịch câu thơ này là phỏng theo lời dịch mà tôi cho là đúng(4) của các cụ túc Nho (Lê Thước - Hà Văn Đại - Trịnh Đình Rư - Nguyễn Sĩ Lâm - Trần Lê Hữu - Vũ Đình Liên) đã quá cố. Các cụ dịch là: " Ức Trai trong lòng rạng vẻ khuê tảo", rồi chú thích: "Khuê tảo: quê hay khuê là sao khuê, tảo là cỏ tảo, tượng trưng cho văn chương". (Hoàng Việt thi văn tuyển, (Bản dịch), Nxb. Văn hóa. H. 1958. T.III, tr.21-22). Đây là câu thơ thứ ba trong bài thơ Quân minh thần lương (Vua sáng tôi hiền) ở thi tập Quỳnh uyển cửu ca, tác phẩm duy nhất của tao đàn(5) thời Lê Thánh Tông. Câu thơ khẳng định Nguyễn Trãi có một sự nghiệp văn chương vĩ đại. Sự nghiệp ấy xứng đáng đứng ở vị trí cao nhất trong thế hệ văn thần thời bình Ngô phục quốc. Lời thơ nhằm đánh giá sự nghiệp văn chương chứ không đề cao đức hạnh Nguyễn Trãi như những lời dịch sai (xem chú giải). Nguyên chú của chính Lê Thánh Tông đã giải nghĩa rõ nội dung của câu thơ: "Thừa chỉ Quan phục hầu Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai, đỗ đại khoa triều Hồ. Khi Thánh Tổ ta mới mở nghiệp, quy phục ở Lỗi Giang, trong thì trù mưu nơi màn trướng, ngoài thì thảo văn chiêu dụ các thành, văn chương làm vẻ vang cho nước (hoa quốc từ chương) rất được yêu quí tin dùng". Cụ nghè Ngô Thế Vinh, viết Tựa cho Ức Trai di tập, cũng hiểu như thế: "Than ôi, trong trời đất, không gì lớn hơn văn chương. Câu nói ấy không phải chỉ là lời nói của một người mà thôi!..Thế thì có người biết nắm giữ đường lối nhân nghĩa, làm cho đời loạn trở thành trị, công cao trong một thời, ơn để mãi về sau, há lại không phải là đỉnh cao của thứ văn chương đủ sức sửa sang việc đời hay sao?" Văn chương ở đây là văn chương kinh bang tế thế (Khổng Nho), nhưng cũng là văn chương kinh bang hoa quốc (Nguyễn Mộng Tuân), văn chương từ chương hoa quốc (Lê Thánh Tông), văn chương có "thư và hịch viết / thảo tài giỏi hơn hết một thời" (Lê Quý Đôn), "văn chương có khí lực dồi dào, đọc không chán miệng" (Phạm Đình Hổ), văn chương "rõ ràng và sang sảng trong khoảng trời đất" (Dương Bá Cung), văn chương "đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật, đều hay và đẹp lạ thường" (Phạm Văn Đồng).

Quan niệm văn chương của Nguyễn Trãi như ông viết ra và như những đại gia khác nhận xét, qua tác phẩm của ông có mấy vấn đề cốt tử: Thứ nhất: văn chương phải là vũ khí chiến đấu bảo vệ nền tự chủ của dân tộc, nhà văn phải là hiền Nho ngõ hầu mới viết được những trang văn chương "Vệ Nam, điện Bắc" ấy. Thứ hai: văn chương phải có tính chất, tác dụng kinh bang tế thế, nhà văn phải là nhà kinh quốc lo liệu việc nước, cứu giúp người đời. Thứ ba: văn chương phải làm đẹp cho nước, cho đời, thiên chức của nhà văn là qua tác phẩm của mình làm cho nước, cho đời, cho người đẹp hơn lên. Những quan niệm văn chương cơ bản ở Nguyễn Trãi trên đây, đã thể hiện tư tưởng Việt Nho trong sáng tác của ông và nhiều đại Nho ở thời đại ông. Nguyễn Trãi đã đưa vào khái niệm Đạo những nội dung dân tộc, làm cho quan niệm văn dĩ tải đạo của Nho gia trở nên uyển chuyển, sống động, sâu sắc, thiết thực biết bao. Xét cho cùng, đây là sự kết hợp tư tưởng Nho giáo với tinh thần dân tộc, làm thành mẫu hình tiêu biểu của Việt Nho trong lĩnh vực văn chương. Mẫu hình này phản ánh quy luật và xu thế phát triển của quan niệm văn học nói riêng, và có thể cả lịch sử văn học nói chung ở nước ta từ thế kỷ XIII (tức từ khi xuất hiện thế hệ nho sĩ đầu tiên trong sáng tác văn học) về sau.

*
**

THƠ VỊNH TRẦN QUỐC TUÁN
(Niềm trung hiếu Việt Nho)

“Sinh phùng gia hấn thệ thâu trung,
Mậu kiến Trùng hưng đệ nhất công.
Một hậu uy do tồi Bắc lỗ,
Ỷ thiên trường kiếm dạ minh phong”.
(Quyết bỏ hiềm nhà vẹn chữ trung,
Trùng hưng nghiệp lớn lập nhiều công.
Uy còn phá giặc thân tuy thác,
Tiếng gió gầm đêm kiếm muốn vung.)
(Lê Thước dịch)

Đây là bài thơ vịnh sử rất tiêu biểu cho văn chương Việt Nho về quan niệm trung hiếu đầy tố chất Đại Việt và ở tính chất huyền thoại quanh nhân vật đã thành truyền thuyết. Bài thơ nằm trong một tập thơ vịnh sử nổi tiếng: Việt giám vịnh sử tập của Đặng Minh Khiêm, hiệu Thoát Hiên, xuất hiện những năm hai mươi thế kỷ XVI. Thơ vịnh sử là thơ vịnh nhân vật, sự kiện, di tích lịch sử để ngôn chí, khiển hoài, với ngụ ý khen chê, nhằm nêu gương lịch sử để giáo hóa người đời. Thể tài này thường dùng phương thức bình luận để thuyết minh giáo huấn đạo đức, quan điểm và cảm nghĩ của tác giả về lịch sử, về cuộc đời và xã hội, thường ẩn sâu trong lớp từ ngữ suy luận khô khan lạnh lùng, chứ ít khi là trữ tình nồng đượm như bài này. Thơ vịnh sử xuất hiện từ thời Trần, phát triển thời Hậu Lê, rồi bội thu ở thời Nguyễn. Việt giám vịnh sử tập gồm 125 bài thơ thất tuyệt vịnh nhân vật lịch sử từ Trần Hồ về trước. Hà Nhậm Đại, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Tự Đức... đều cho đây là tập thơ hay, nổi tiếng, vì "Đáo xứ nhân giai thuyết Thoát Hiên" (Đến đâu cũng thấy người ta nói đến thơ Thoát Hiên) vì "Bao biếm khử thủ thậm thâm ý, doãn xưng danh bút" (Khen chê lấy bỏ đều có ý sâu, đáng gọi là danh bút)...

Ở bài thơ trên, tác giả khẳng định: Đệ nhất huân công diệt Nguyên và uy danh linh hiển đời đời của Hưng Đạo Đại vương. Đại nghiệp có được từ quan niệm trung hiếu vẹn toàn, uy linh tỏa rạng, phù hợp với tâm lý, tín ngưỡng phương tục, tập quán của người xưa. Người Việt, ai mà chẳng hiểu "quyết bỏ hiềm nhà vẹn chữ trung" của Trần Quốc Tuấn, đệ nhất anh hùng chống Nguyên Mông. Sử chép: Trần Liễu, cha Trần Quốc Tuấn, bị Trần Thái Tông cướp vợ (do mưu mô của Trần Thủ Độ) mang lòng oán hận. Khi lâm chung, dặn Trần Quốc Tuấn không vì cha mà lấy được thiên hạ (tức giành ngôi vua) thì chết không nhắm mắt. Trần Quốc Tuấn để bụng nhưng không cho thế là phải, không làm theo lời cha dặn để tròn tiểu hiếu, mà quyết giữ đạo trung (cũng là đại hiếu) với vua với nước, ngay giữa lúc nắm trong tay toàn bộ binh quyền chống xâm lược Nguyên Mông. Nho giáo cho hiếu là gốc của nhân, của đức, là kính yêu cha mẹ, là phụng dưỡng theo lễ khi cha mẹ còn sống, là mai táng theo lễ khi cha mẹ qua đời, là cha ẩn giấu cho con, con ẩn giấu cho cha, chứ không phải cha trộm dê thì con đi cáo giáo (Luận ngữ: XIII - 18) v.v..., có thể gọi đó là tiểu hiếu. Còn đại hiếu là trong quan hệ giữa con và cha mẹ, có thêm quan hệ với nước, với dân. Chừng đó, người con có thái độ ứng xử đúng đắn đặt trách nhiệm của mình và quyền lợi của nước lên trên, dầu có mâu thuẫn cha con. Tìm trong Bắc sử, không kể cách ứng xử này rất hiếm thấy ở Việt Nam "Cô gái không hay hồn mất nước. Bên sông còn hát Hậu Đình hoa" (Thương nữ bất tri vong quốc hận. Cách giang do xướng Hậu Đình hoa. Đổ Mục, Bạc Tần Hoài) chuyện Ngữ Viên (tức Ngữ Tử Tư) mới là tiêu biểu. Cha Ngũ Viên bị vua Sở sát hại. Để trả thù cho cha, Ngũ Viên bỏ nước của tổ tiên, sang Ngộ, rước quân Ngô về tàn sát nước Sở, đào mả kẻ thù, quất roi nát tươm xác chết cho hả dạ, để tròn đạo hiếu. Không biết ở đất Bắc, Ngũ Viên có còn được coi là hào kiệt hiếu kính ?

GS. Phan Ngọc viết rằng: "Khổng giáo là học thuyết không nói đến Tổ Quốc"(6). Còn các học giả Trung Quốc thì xác nhận thời điểm xuất hiện của chủ nghĩa yêu nước trong văn học Trung Quốc là thời kỳ từ sau chiến tranh thuốc phiện năm 1840-1842(7). Những kiến giải có tầm vĩ mô như thế này chắc chắn còn được bàn nhiều. Song, xem nước là khái niệm trung tâm của tâm thức, của văn hóa Việt Nam, tâm thức ấy là gốc nguồn phát sinh ra tư tưởng, tình cảm, hành vi trung với nước (vô điều kiện), trung với vua (phải tùy thời), hiếu kính với cha mẹ (tiểu hiếu), với nước (đại hiếu) thì không hiếm trong tiến trình lịch sử nước ta. Trần Quốc Tuấn là một biểu trưng, Nguyễn Trãi cũng là một biểu trưng. Cả hai đều tận trung đại hiếu với nước với dân(8). Đó là Việt Nho hay trọn vẹn là tinh thần dân tộc, hoặc là phải bàn chăng? Hãy tạm dừng, để đi tiếp vào hai câu thơ sau:

Uy còn phá giặc thân tuy thác,
Tiếng gió gầm đêm kiếm muốn vung.

Tác giả, với tư cách một nhà thơ vịnh sử đã dùng huyền thoại để thần kỳ hoá uy danh của Trần Quốc Tuấn. Hai câu viết dựa vào hai huyền thoại, kể rằng: Ngài thác rồi mà dư uy vẫn còn phá tan giặc Bắc và huyền thoại về thanh kiếm thần Ngài đã dùng để chém giặc thời chinh chiến, nay để thờ Vạn Kiếp, hễ có giặc phạm vào bờ cõi, đến khấn lễ ở đền, kiếm thiêng để trong hộp kêu rít như sấm dậy, gió gào là điềm thắng trận. Đây chỉ là hai trong số hàng chục huyền thoại về Đức Thánh Trần. Con người khi sống thì đại trung đại hiếu, khi mất vẫn uy vũ để đời. Từ cõi thánh thần, Đức Thánh vẫn trở về âm phù dương thế, trừ tà ma, ngừa tai hoạn, dân cầu cúng đều ứng nghiệm. Đức Thánh trở thành bất tử, thiêng liêng linh hiển đời đời. Huyền thoại, truyền thuyết về Trần Quốc Tuấn thể hiện tâm lý, tín ngưỡng, thế giới quan đa thần của người xưa. Nói như Hégel "Huyền thoại như là một giàn giáo nâng đỡ lịch sử. Nếu chúng ta cố tình gỡ bỏ giàn giáo đó thì toàn bộ lịch sử sẽ bị sụp đổ(9).

Đặng Minh Khiêm là Tiến sĩ Nho học, không câu nệ vào lời Thánh Khổng: "bất ngữ quái, lực, loạn, thần", ông là nhà sử học viết về huyền thoại, bảo lưu trí tưởng tượng, cách nhìn nhận về danh nhân, giống như Ngô Sĩ Liên đã làm khi viết phần Ngoại kỷ Đại Việt sử ký toàn thư. Ông lại là nhà thơ nên ngôn từ uyên áo, hàm súc, giàu tưởng tượng. Huyền thoại, truyền thuyết thì chất phác, hoang đường, kỳ diệu nhưng cốt lõi là niềm tự hào về anh hùng dân tộc thì chân thực, đáng quí biết bao.

Như thế thì bài thơ trên là trọn vẹn của một tinh thần dân tộc ? GS. Trần Đình Hượu cho rằng quý tộc nhà Trần sùng bái Phật giáo nhưng Trần Quốc Tuấn là một trường họp lệ ngoại, có xu hướng chuộng Nho. Ông không tham gia vào các hoạt động xây chùa, đúc chuông như các quý tộc khác. Môn khách của ông như Trương Hán Siêu, Lê Quát đều là nhà Nho chống Phật giáo. "Tư tưởng trong bài Hịch tướng sĩ nổi tiếng của ông có nội dung Nho giáo rõ rệt. Ngoài ra nhân dân thờ ông như một ông tổ của Đạo giáo"(10)... Nhưng vị Trưởng lão Hoàng Xuân Hãn thì lại viết: "Trần Quốc Tuấn yêu Thiên Thành, con Thái Tông, nhưng Thiên Thành đã thành hôn mà chưa hợp cẩn với Trung Thành Vương. Trần Quốc Tuấn lẻn vào nhà Thiên Thành tư thông với nàng. Cô và là mẹ nuôi Trần Quốc Tuấn sợ ông bị tội nên xin Thái Tông cho cưới, đền 2000 khoảnh ruộng. Câu chuyện này đủ tỏ tính cách cả quyết của vị tướng sau này đại thắng quân Mông Cổ và sự hành vi trái Nho của tư nhân phong kiến đời Trần"(11)

Kiến giải của các đại gia đã quá cố quả có phần chưa đồng thuận. Có lẽ, kết giải nên coi:

- Đây là bài thơ vịnh sử được viết với quan niệm văn học Nho giáo, nhưng do tâm đắc với công tích và huyền thoại của / về nhân vật, bài thơ trở thành một kiệt tác suy tôn anh hùng dân tộc.

- Bài thơ có tư tưởng Việt Nho, trong đó thành phần chỉ đạo là tinh thần dân tộc thống nhất với thành phần Khổng Nho.

*
**

Tâm thức Việt, tinh hoa của truyền thống Việt đã hóa giải phần nào Nho giáo nhập Việt, tạo thành Việt Nho trong văn chương, văn hóa tư tưởng Việt, trong đó có sự kết hợp dung hòa, thống nhất Khổng Nho và tinh thần dân tộc. Trên đây là cách hiểu của riêng tôi về Việt Nho qua một số tác phẩm văn chương. Nho giáo cũng như quan niệm văn chương Nho giáo đã nhập Việt từ lâu. Bài bản bàn luận cho đến nay nhiều tựa cây rừng. Xin coi những trang viết này như những lời trộm nghĩ.

B.D.T

CHÚ THÍCH:

(1) Các tác giả trên, sinh thời thường có kiến giải mới mẻ, khoa học, thuyết phục về Nho giáo ở Việt Nam. Đặc biệt, Cố GS. Trần Đình Hượu, với tập sách Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại, được giải thưởng Nhà nước, đã đưa ra nhiều kiến giải khoa học có hệ thống về Nho giáo và văn học. Là đồng nghiệp của Cố GS, tôi biết, những bài viết này, cho đến dịp Unesco kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi (1980), không được in một chữ nào. Còn cho đến nay thì đã: Không một chữ nào không in, kể cả vở của sinh viên nghe ghi những bài giảng chuyên đề của ông về tu tưởng, học thuyết Trung Quốc thời cổ.

(2) Người mắc sai lầm đầu tiên cho rằng bài thơ do Lý Thường Kiệt đặt ra là Trần Trọng Kim: "Lúc bấy giờ quân nhà Tống đánh hăng lắm, Lý Thường Kiệt hết sức chống giữ, nhưng sợ quân mình có ngã lòng chăng, bèn đặt ra một chuyện nói rằng có thần cho bốn câu thơ. Xem Việt Nam sử lược, (tái bản). Nxb. Văn hóa Thông tin. H. 1999. tr.112. Sách in từ năm 1917-1918. Sau đó tái bản nhiều lần. Từ đó nhiều học giả tin và viết theo. Khoảng mươi năm gần đây Bùi Duy Tân đã khảo cứu lại văn bản và tác giả bài thơ, với sự cổ vũ của GS. Hà Văn Tấn, tìm ra Nam quốc sơn hà là bài thơ trích xuất từ truyền thuyết Trương Hống - Trương Hát, chứ không phải từ một thi tuyển. Cho nên coi đó là Thơ thần và tác giả của bài thơ là nhân sĩ thời tự chủ. Lý Thường Kiệt là người sử dụng bài thơ có sẵn. Thế nhưng chú thích của sách giáo khoa Ngữ Văn 7 - Tập Một (Nxb. Giáo dục, H, 2003, tr.63) lại viết: "Chưa rõ tác giả bài thơ là ai. Sau này có nhiều sách (kể bức tranh cả sơn mài ở Viện Bảo tàng Lịch sử được chụp in lại trên đây) ghi là Lý Thường Kiệt, nhưng chưa đủ chứng cớ". viết như thế là ngụy biện, vì sách “ghi là Lý Thường Kiệt” sau này đều là quốc ngữ viết theo Trần Trọng Kim. Còn hơn 30 tư liệu Hán Nôm đáng tin cậy (chưa kể hàng trăm thần phả, thần tích bằng chữ Hán Nôm mà ta chưa tra cứu hết được) thời xưa có ghi chép in ấn văn bản bài thơ thì không hề có một văn bản nào ghi tác giả bài thơ là, hoặc tương truyền là của Lý Thường Kiệt. Riêng bức Sơn mài thì xin thưa theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 3, tr.811. Mục từ Sơn Mài (Nxb. Từ điển Bách khoa, H. 2003) thì Nghệ thuật sơn mài được các họa sĩ Trường Mĩ thuật Đông Dương như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn sáng tạo đầu những năm 30 của thế kỷ trước. Viện Bảo tàng lịch sử làm bức sơn mài cũng mới chỉ cách ta khoảng non chục năm. Với lối viết văn lập bập. mập mờ như vậy, sách giáo khoa dễ làm cho hàng triệu người dạy, người đọc, người học ngộ nhận. Thiết nghĩ soạn giả Sách giáo khoa nên chỉnh lại chú thích này.

(3) Đầu đề do chúng tôi đặt. Đây là bài thơ số 183 - Bảo kính cảnh giới 57- Quốc âm thi tập.

(4) Khác với lời dịch sai: " Ức Trai lòng dạ sáng như sao khuê" của T.H.L; "Ức Trai lòng tựa sao khuê sáng" của H.C; "Tâm hồn Ức Trai trong sáng như ánh sao khuê buổi sớm" của N.L.B; "Tấm lòng Ức Trai sáng như sao Khuê" của P.H.L v.v... Tôi, Vũ Nho, Tạ Ngọc Liễn đã viết nhiều bài nói rõ Khuê tảo ở đây có nghĩa là Văn chương, song thật khó đính chính trước tình trạng "ký xuất, nan truy", "sai một ly đi một dặm" này. Dầu sao cũng xin kính cáo với quý vị học giả một hiện tượng hi hữu đáng quan tâm về dịch thuật cổ Hán ngữ thời nay. Xin xem thêm, chẳng hạn Khảo và Luận một số tác gia, tác phẩm trung đại Việt Nam, (Tập Một) Nxb. Giáo dục, H. 1999. Bài Bàn thêm về Khuê tảo - Hoa quốc từ chương, tr.4937.

(5) Danh xưng Tao đàn, chỉ Hội Tao đàn thời Lê Thánh Tông được T.S. JohnK. Whitmore - Trường Đại học Tổng hợp Michigan - Mỹ (TCVH.5. 1996 Hội Tao đàn - thơ ca vũ trụ và thể chế nhà nước thời Hồng Đức) và Tôi (TCVH. 1-1993 - Xem thêm Khảo và Luận Sđd. Hội Tao đàn - Quỳnh uyển cửu ca và vai trò Lê Thánh Tông) đều tìm chưa thấy ở các loại tư liệu đáng tin cậy của thế kỷ XV, nhân dịp kỷ niệm 550 năm sinh Lê Thánh Tông (1442-1992). Tên Tao đàn với tư cách Hội hiện thấy trong văn bản chép tay ở thế kỷ XVI.

(6) Phan Ngọc: Bản sắc văn hóa Việt Nam. Nxb. Văn hóa Thông tin. 1998.tr.227.

(7) Đại Trung Hoa tri thức bảo khố. Nxb. Nhân Dân Hồ Bắc 1995, tr.850.

(8) Nguyễn Phi Khanh, khi bị quân Minh cầm tù, áp giải qua biên giới, bèn khuyên Nguyễn Trãi: "Con hãy trở về quyết chí vào việc rửa nhục cho nước, trả thù cho cha... như thế mới là đại hiếu...". Xem Mấy vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi. Nxb. KHXH, H. 1963, tr.252.

(9) Trích lại của Thế giới mới. Số 577 (22-3-2004).tr.180.

(10) Xem Lê Thánh Tông - Thơ văn và cuộc đời. Mai Xuân Hải tuyển chọn, biên soạn. Nxb. Hội Nhà văn. H. 1998, tr.27-28. Bài Lê Thánh Tông và thời thịnh trị của Nho học.

(11) Tập san Khoa học xã hội số 7 năm 1982. Phần in nghiêng đậm là do tôi (B.D.T) nhấn mạnh./.

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm [số 2 năm 2005]