Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Cơ cấu và tình hình sử dụng ruộng đất ở châu thổ sông Hồng trong thời kì Đổi mới

Châu thổ sông Hồng (CTSH) bao gồm Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và 9 tỉnh là Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình với diện tích tự nhiên là 1.478,9 nghìn ha và 16,83 triệu người ( chiếm 22,05% dân số cả nước)[1]

Là vùng kinh tế trọng yếu của đất nước, Châu thổ sông Hồng có lịch sử phát triển lâu đời và là cái nôi của nền văn minh lúa nước Việt Nam. Kể từ sau Khoán 100 (1981) đến nay, năng suất lúa ở khu vực này đã tăng gấp 3 lần so với năng suất lúa của miền Bắc vào năm 1974, đưa sản lượng lúa thu được đạt 6,7 triệu tấn (năm 2002) . Nguyên nhân chủ yếu của những biến đổi đó là do sự thay đổi về diện tích và quan hệ sử dụng ruộng đất. Nhưng diện tích và cơ cấu sử dụng ruộng đất ở châu thổ sông Hồng đã thay đổi như thế nào, và đã có tác động gì đối với những chuyển biến của sản xuất nông nghiệp ở vùng này trong thời kỳ đổi mới? Bài viết của chúng tôi sẽ góp phần tìm hiểu về vấn đề đó.

 

  1.  TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT Ở CHÂU THỔ SÔNG HỒNG THỜI KỲ TRƯỚC KHOÁN 10 (1988)

Từ năm 1958 trên toàn miền Bắc Việt Nam, hầu hết ruộng đất cũng như sản xuất nông nghiệp đều được tập thể hoá và đặt dưới sự quản lý của các hợp tác xã. Với tư cách đại diện cho thành phần kinh tế tập thể, hợp tác xã quản lý hầu hết đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp.  Năm 1980, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp ở miền Bắc thuộc quyền quản lý của hợp tác xã (HTX) là 2.239.776 ha, quy mô đất canh tác bình quân của một hợp tác xã là 202ha/1 HTX và ở châu thổ sông Hồng, con số đó là 729.640 ha và 340 ha/1 HTX[2]

Cho đến giữa những năm 1980, mặc dù chính sách Khoán 100 đã được thực hiện nhưng về cơ bản, cơ cấu ruộng đất ở khu vực châu thổ sông Hồng vẫn chưa có sự thay đổi nào đáng kể so với thời kỳ trước đó. Bảng thống kê sau (bảng 1) thể hiện khá rõ điều đó:

Bảng 1. Tình hình ruộng đất ở châu thổ sông Hồng sau Khoán 100 (1981) [3]

STT

Loại đất

Năm 1985

Năm 1987

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

Diện tích (ha)

Tỷ Lệ (%)

1

Đất tự nhiên

1.153.179

100,00

1.152.693

100,00

2

Đất nông nghiệp

662.185

57,42

656.114

56,92

3

Đất lâm nghiệp

37.683

57,42

37.667

3,20

4

Đất chuyên dùng

138.435

12,00

134.039

11,62

5

Đất thổ cư

101.665

8,80

107.659

9,33

6

Đất chưa sử dụng

213.031

18,47

217.214

18,84

 

Qua bảng thống kê trên cho thấy, so với đầu thập niên 1980, diện tích đất canh tác ở châu thổ sông Hồng không những không được mở rộng mà còn giảm đi khá nhiều (6.071ha trong vòng 2 năm). So với  các địa phương khác, đây là nơi có bình quân đất canh tác thấp nhất so với cả nước. Năm 1985, bình quân diện tích canh tác của hộ ở khu vực này chỉ đạt 3488m2/hộ, thấp hơn so với mức bình quân hộ của miền Bắc (thời kỳ trước năm 1957) là 360m2[4]. Mức bình quân diện tích đất canh tác tính theo nhân khẩu và lao động nông nghiệp của khu vực này cũng rất thấp so với các khu vực khác. Điều này thể hiện rõ trong bảng thống kê sau:

Bảng 2. Bình quân đất canh tác ở châu thổ sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long[5]

Khu vực

Hộ nông nghiệp (m2/hộ)

Nhân khẩu nông nghiệp (m2/khẩu)

Lao động nông nghiệp (m2/lđ)

Cả nước

8.325

1.678

4.390

Châu thổ sông Hồng

3.488

860

2.494

Đồng bằng sông Cửu Long

12.374

2.190

5.014

 
Như vậy, trước năm 1988, diện tích, cơ cấu và quan hệ sử dụng ruộng đất ở châu thổ sông Hồng nhìn chung chưa có thay đổi đáng kể: diện tích ruộng đất không  tăng, bình quân ruộng đất thấp, hầu hết ruộng đất vẫn thuộc quyền quản lý của hợp tác xã. Đây là lí do chủ yếu khiến cho nền nông nghiệp ở đây chưa có nhiều chuyển biến tích cực, chưa có những thành tựu nổi bật, xứng đáng với tầm vóc của khu vực - một vùng nông thôn giàu tiềm năng phát triển.

II. CƠ CẤU VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG RUỘNG ĐẤT Ở CHÂU THỔ SÔNG HỒNG TỪ SAU KHOÁN 10 (1988)

  1. Từ sự biến đổi về diện tích, cơ cấu và quan hệ sử dụng ruộng đất

Từ 1986 trở đi, thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện đất nước của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp Việt Nam nói chung đã từng bước chuyển biến mạnh mẽ với mức tăng trưởng hàng năm ngày càng tăng. Một trong những yếu tố quyết định bước phát triển của kinh tế nông nghiệp trong những năm qua là chính sách đổi mới trong quan hệ sở hữu và sử dụng ruộng đất.

 Trước yêu cầu đổi mới và tiếp tục phát triển kinh tế nông nghiệp, ngày 5/4/1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (gọi tắt là Khoán 10), và sau đó là Luật đất đai (tháng 7/1993), Luật Hợp tác xã (1/1/1997)...lần lượt ra đời.

Theo đó, ruộng đất vẫn thuộc sở hữu tập thể nhưng người nông dân có quyền sử dụng ổn định lâu dài tuỳ theo loại cây canh tác (10 - 15 năm với cây trồng hàng năm, hay 50 năm đối với cây lâu năm). Bên cạnh quyền chủ động sử dụng ruộng đất vào các mục đích sản xuất kinh tế theo quy định của Nhà nước, người nông dân còn có quyền chuyển đổi, sang nhượng, cho thuê, thế chấp ruộng đất. Như vậy, ruộng đất về thực chất đã được chuyển từ chế độ sở hữu tập thể sang chế độ công hữu tư dụng hay sở hữu tư nhân hạn chế. Với sự thay đổi này, Nhà nước đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, đặc biệt là đất đai phục vụ phát triển nông nghiệp.

Từ sau 1988, dưới tác động của chính sách đổi mới về ruộng đất, cơ cấu và diện tích các loại đất ở châu thổ sông Hồng có khá nhiều thay đổi, thể hiện qua bảng thống kê sau:

Bảng 3. Tình hình sử dụng đất đai ở châu thổ sông Hồng từ 1990 đến nay[6]

Năm

Đất tự nhiên

Đất nông nghiệp

Tỷ lệ (%)

 

 

Đất lâm nghiệp

Tỷ lệ (%)

Đất chuyên dùng

Tỷ lệ (%)

Đất thổ cư

Tỷ lệ (%)

Đất chưa sử dụng

Tỷ lệ (%)

1990

1.153027

653226

56,65

48280

4,18

161385

13,99

76739

6,65

213442

18,50

1995

1.265456

720218

57,09

61028

4,83

193582

15,34

78232

6,20

208396

16,50

2000

1.261404

738748

58,57

88099

6,98

200511

15,89

80818

6,41

153188

12,15

2002

1.262978

737017

58,36

90811

7,19

205333

16,26

80996

6,41

148821

11,78

 

Rõ ràng, diện tích đất canh tác đã không ngừng tăng lên từ 1.153.027 lên 1.262.978. Nguyên nhân chủ yếu là do chính quyền và nhân dân các tỉnh này đã tổ chức thực hiện tốt chính sách khai hoang, vỡ hoá. Năm 2002, diện tích gieo trồng tăng thêm 109.957ha so với năm 1990, trung bình mỗi năm tăng 9.163ha. Do tác động của qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, diện tích đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng (dành để xây dựng các công trình công cộng, đường giao thông, trường học, bệnh viện...) và các loại đất phi nông nghiệp khác cũng mở rộng nhanh chóng.

Là một vùng chủ yếu phát triển các loại cây lương thực, đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ đất lâm nghiệp tương đối thấp (chiếm không quá 8% diện tích đất tự nhiên của cả vùng và dưới 1% diện tích rừng của cả nước). Tuy nhiên, từ năm 1995 đến nay, diện tích đất lâm nghiệp lại có chiều hướng tăng dần lên; trong vòng 8 năm (1995 - 2002) đã tăng thêm 29.783ha. Trong đó, hai địa phương có diện tích rừng lớn nhất là Hải Phòng (21.437ha) và Ninh Bình (20.007ha), (với hai vườn quốc gia Cát Bà và Cúc Phương) chiếm 45,6% tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn vùng[7].

Diện tích đất chuyên dùng ở châu thổ sông Hồng cũng có chiều hướng tăng dần qua các năm, chủ yếu là để phục vụ xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi và các công trình công cộng. Đến năm 2002, diện tích này đạt 205.333ha, tăng gần 1,3 lần so với năm 1990 (161.385ha).

Một điểm đáng chú ý là trong khi dân số luôn có xu hướng gia tăng thì đất thổ cư của châu thổ sông Hồng lại ít có sự biến đổi. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, trong vòng 3 năm trở lại đây (2001 - 2003), dân số của khu vực này luôn đạt ở mức cao nhất trong cả nước (trên 17.000.000 người[8]) với mật độ tương đối đông đúc, khoảng 1124 người/km2 (năm 1994), cao gấp 5 lần so với mật độ trung bình của cả nước[9]. Tuy nhiên, cho tới nay, diện tích đất thổ cư của khu vực này chưa bao giờ vượt quá 7% so với tổng diện tích đất đai, năm cao nhất đạt 6,93%. Từ năm 2000 đến nay, tỷ lệ này ổn định ở mức 6,4%, trong đó các địa phương có tỷ lệ đất thổ cư cao nhất vùng là Hà Nội (14,6%), Hải Dương (13,8%), Thái Bình (15,3%) và Hà Tây (15,9%)[10]

Trong khi diện tích các loại đất phi nông nghiệp gia tăng thì diện tích đất nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng gần như chững lại. Trong những năm gần đây, tỷ lệ đất nông nghiệp luôn chiếm khoảng 56% - 58% so với tổng diện tích đất, đứng thứ hai cả nước (sau đồng bằng sông Cửu Long), bao gồm các loại đất trồng cây lương thực, trồng cây lâu năm, trồng cỏ chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản.

      Bảng 4. Các loại đất nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng năm 2002[11].

Đơn vị: ha

LOẠI ĐẤT

DIỆN TÍCH

1. Đất trồng cây hàng năm

613.829

         a. Đất ruộng lúa, lúa màu

570.373

         b. Đất nương rẫy

204

         c. Đất trồng cây hàng năm khác

43.252

2. Đất vườn tạp

45.460

3. Đất trồng cây lâu năm

20.835

4. Đất cỏ dùng vào chăn nuôi

1.374

5. Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản

55.519

 

 

Tổng cộng

737.017

 

           

            Đất nông nghiệp của châu thổ sông Hồng chủ yếu được sử dụng để trồng  cây lương thực với diện tích chiếm tới 92,9%. Ngoài ra, còn có nhiều ao, hồ, thùng, vũng... chiếm tới 7,5% tổng diện tích tự nhiên, là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản.

2. Đến những biến đổi trong năng suất và sản lượng nông nghiệp 

      Do tác động của chính sách giao khoán ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân, cũng như sự biến đổi về phương thức quản lý và sử dụng ruộng đất (hợp tác xã không còn có vai trò quản lý nông nghiệp toàn diện như trước), sản lượng và năng suất các loại nông sản đều tăng mạnh, nhất là cây lúa. Nhưng nguyên nhân làm tăng sản lượng lúa ở khu vực này không phải do sự mở rộng diện tích canh tác mà là do các nông hộ đã triệt để khai thác phần ruộng đất được giao để thâm canh tăng năng suất. Dưới đây là những con số thể hiện những biến đổi trong tình hình sản xuất nông nghiệp hai thập niên vừa qua:

Bảng 5:  Diện tích, năng suất, sản lượng lúa cả năm đồng bằng sông Hồng từ 1976 đến 2003[12]

Năm

Diện tích (ha)

Năng suất (Tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

1976

1.060.500

27,8

2.903.000

1985

1.051.800

29,4

3.091.900

1989

1.057.500

35,4

3.743.600

1990

1.057.500

34,2

3.618.100

1991

1.013.800

29,3

3.038.000

1992

1.024.700

40,0

4.101.600

1993

1.033.500

46,8

4.843.300

1994

1.026.800

40,1

4.121.300

1995

1.042.100

44,4

4.623.100

1996

1.023.100

47,0

4.811.800

1997

1.044.400

48,0

5.076.600

1998

1.046.700

51,3

5.364.900

1999

1.202.800

53.1

6.383.000

2000

1.212.600

54,3

6.586.000

2001

1.202.500

53,4

6.419.400

2002

1.196.600

56,4

6.752.200

2003

1.183.600

55,5

6.567.700

 

           

  Nếu năm 1976, khi đất nước mới thống nhất năng suất lúa khu vực này chỉ mới đạt 27,8 tạ/ha thì đến năm 1989 đã đạt 35,4 tạ/ha. Đặc biệt, từ năm 1998 đến nay, năng suất lúa ở đồng bằng sông Hồng luôn đạt ở mức cao nhất cả nước, đạt khoảng từ  52 - 54 tạ/ha. Trong số đó, có một số huyện năng xuất bình quân đạt gấp đôi như huyện Cẩm Bình (Hải Dương) đạt 97,6 tạ/ha[13], Hưng Hà (Thái Bình) đạt 135 tạ/ha[14] (năm 1998). 

Trên cơ sở năng suất liên tục tăng nhanh, sản lượng lúa ở khu vực này cũng ngày càng lớn. Trong 3 năm gần đây (2001-2003), sản lượng lúa của đồng bằng sông Hồng luôn đạt ở mức trên 6 triệu tấn/năm, cao nhất là năm 2002 đạt 6 triệu 752 nghìn tấn. Cùng với việc đẩy mạnh năng suất và sản lượng lúa, nhiều địa phương trong khu vực đã chủ động đổi mới cơ cấu giống lúa theo hướng giảm dần diện tích trồng các giống lúa có chất lượng thấp, tăng tỷ trọng diện tích gieo trồng các giống lúa có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.

Rõ ràng, nhờ thực hiện chính sách giao khoán ruộng đất lâu dài cho nông dân và việc đề cao vai trò chủ thể của kinh tế hộ mà sản xuất nông nghiệp ở châu thổ sông Hồng nói riêng, ở Việt Nam nói chung đã có những biến đổi rất nhanh chóng trong hai thập kỷ qua. Sự chuyển biến về năng suất và sản lượng lương thực đã tạo cơ sở tăng nhanh mức bình quân lương thực trên đầu người. Tuy nhiên, so với khu vực đồng bằng sông Cửu Long, mức bình quân lương thực ở châu thổ sông Hồng luôn thấp hơn từ 2 đến 3 lần. Có thể thấy rõ điều này qua bảng thống kê sau:

Bảng 6: Bình quân lương thực /đầu người/năm ở khu vực đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. [15]

Đơn vị tính: kg

Năm

Cả nước

ĐB sông Hồng

ĐB sông Cửu Long

1985

304

  255,3

 512,4

1989

   322,2

  314,4

 639,1

1990

   324,4

  294,5

 858,2

1991

   324,9

  256,6

 703,1

1992

   348,9

  346,4

 727,3

1993

359

  389,8

 721,3

1994

  361,3

  328,4

 775,3

1995

  372,5

  355,1

 808,7

1996

  387,7

361

 854,3

1997

  399,1

  374,6

 841,5

1998

  407,9

  383,6

 912,3

2000

  444,8

  403,0

1025,1

2001

  435,5

  385,5

 974,2

2002

  463.6

  400,9

1066,3

2003

  462,9

  384,3

1046,3

 

           

Qua các tài liệu trên cho thấy, mặc dù năng suất, sản lượng và bình quân lương thực trên khẩu ở châu thổ sông Hồng đã tăng nhanh trong những năm đổi mới vừa qua nhưng tính chất hàng hoá và năng lực xuất khẩu của sản xuất nông nghiệp của vùng này còn chậm và hạn chế nhiều so với đồng bằng sông Cửu Long.

Để đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá ở vùng châu thổ sông Hồng, sản xuất nông nghiệp phải tiến theo hướng thâm canh, tăng vụ, mở rộng ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Bên cạnh đó, vấn đề quan trọng nhất là phải giảm nhanh chóng tỷ lệ hộ thuần nông, phát triển hộ đa nghề, thực hiện chuyên môn hoá theo hướng ai giỏi nghề gì làm việc ấy trong khuôn khổ cho phép của pháp luật.

III. TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT Ở CHÂU THỔ SÔNG HỒNG HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ

Những thành tựu của kinh tế nông nghiệp khu vực đồng bằng sông Hồng trong hơn hai thập kỷ qua là kết quả không thể phủ nhận do tác động của chính sách đổi mới trong cơ cấu và quan hệ sử dụng mang lại. Tuy nhiên, thực trạng ruộng đất cũng như tình hình nông nghiệp, nông thôn ở khu vực này hiện nay đang đặt ra những vấn đề cần được giải quyết thoả đáng và kịp thời.

1- Tình trạng giảm sút ngày càng nhanh chóng diện tích canh tác đã làm mất dần lợi thế và tiềm năng phát triển nông nghiệp của vùng châu thổ sông Hồng. Ngoài lí do gia tăng nhanh chóng về dân số và số hộ nông nghiệp còn có một nguyên nhân khác là sự tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra với tốc độ ngày một nhanh ở khu vực này, với sự xuất hiện của một loạt các khu công nghiệp như Nomura, Nomtec (Hải Phòng), các khu công nghiệp vừa và nhỏ dọc theo Quốc lộ 5 thuộc các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, khu công nghiệp Nội Bài, Sài Đồng (Hà Nội) v.v... Đặc biệt, Hà Nội là địa phương có diện tích đất canh tác giảm mạnh nhất do quá trình mở rộng nhiều khu đô thị mới như Bắc Linh Đàm, Định Công, Mỹ Đình v.v… cùng các trục đường cao tốc Hà Nội - Hoà Lạc, Hà Nội - Nội Bài v.v…     

Hiện nay, quỹ đất nông nghiệp của đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm khoảng 9,5% đất nông nghiệp của cả nước. Trong khi đó, số hộ nông nghiệp chiếm 23,5%, khẩu chiếm 21% và lao động nông nghiệp chiếm 19,5% tổng số hộ, khẩu và lao động nông nghiệp của cả nước[16]. Có thể thấy rõ tình hình này qua bảng kê sau:

Bảng 7: Bình quân ruộng đất ở đồng bằng sông Hồng (từ 1985-1998)[17]

Năm

Tổng diện tích đất nông nghiệp (ha)

Tổng số hộ nông nghiệp (hộ)

B. quân hộ nông nghiệp (m2)

Tổng số khẩu nông nghiệp (khẩu)

DT B.quân khẩu nông nghiệp (m2)

Tổng số lao động nông nghiệp (người)

DT B.quân lao động nông nghiệp (m2)

1985

662.185

1.892.800

3488

2.674.300

860

2.647.600

2494

1990

653.226

2.167.900

3004

8.521.700

764

3.074.900

2118

1995

720.218

2.643.000

2173

10.814.000

664

4.833.000

1846

1998

720.747

2.647.000

2715

10.793.000

665

4.997.000

1438

 

Như vậy, chỉ trong vòng 9 năm (1990 - 1998), trung bình hàng năm đất canh tác của châu thổ sông Hồng giảm 150m2/hộ. Có đến 96% hộ nông dân có diện tích canh tác ở mức thấp, dưới 0,5ha.

Đất nông nghiệp không tăng, trong khi đó số khẩu trung bình hàng năm tăng lên 313.000 người, khiến bình quân ruộng đất trên đầu người giảm mạnh. Đến năm 1998, bình quân ruộng đất/đầu người còn 665m2, giảm 195m2 so với năm 1987 (860m2). Ở một số tỉnh như Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định..., con số này còn thấp hơn nhiều, thậm chí có nơi còn dưới 1 sào Bắc bộ ( tức dưới 360m2/khẩu).

Bảng 8: Bình quân ruộng đất trên khẩu của một số xã thuộc châu thổ sông Hồng. Đơn vị: m2/khẩu

STT

Khu vực

Bình quân

1[18]

Đồng bằng sông Hồng

655

2[19]

Xã Hoàng Liệt (Thanh Trì, Hà Nội)

533

3[20]

Xã Mễ Sở (Châu Giang, Hưng Yên)

396

4[21]

Xã Xuân Tiểu, Xuân Thiện (Xuân Thuỷ, Nam Định)

260

5[22]

Xã Dương Liễu (Hoài Đức, Hà Tây)

267

6[23]

Xã Nguyên Xá (Đông Hưng, Thái Bình)

300

 

Trước thực trạng đó, nhằm khắc phục mâu thuẫn gay gắt giưã sự gia tăng dân số và sự giảm sút nhanh chóng diện tích tích gieo trồng, một số địa phương đã kịp thời khuyến khích các hộ nông dân chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp, hoặc tìm cách chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và đa dạng hoá các ngành nghề sản xuất. Điển hình cho hướng đi này là trường hợp của xã Phụng Thượng (Phúc Thọ, Hà Tây) đã chuyển sang nuôi các con vật quý hiếm như: rắn, ba ba ...; hay ở xã Mễ Sở (Văn Giang, Hưng Yên) nhiều gia đình nông dân đã chuyển từ trồng lúa sang sản xuất các cây ăn quả và tham gia làm dịch vụ, buôn bán.

2- Vấn đề nan giải thứ hai là tình trạng phân tán và manh mún ruộng đất. Ngoài lý do lịch sử (ruộng đất ở vùng châu thổ vốn bị xé nhỏ từ thời phong kiến và thuộc địa), nguyên nhân trực tiếp của tình trạng này là vì chính sách giao khoán ruộng đất theo nguyên tắc bình quân chủ nghĩa, “có tốt, có xấu, có gần, có xa” dựa trên số nhân khẩu hoặc lao động của mỗi gia đình nhận ruộng. Mỗi hộ thường phải canh tác trên 10 mảnh ruộng biệt có nơi từ 15-20 mảnh. Điển hình ở xã Trầm Lộng (huyện ứng Hoà, tỉnh Hà Tây), bình quân mỗi hộ phải canh tác trên 22 thửa ruộng ở các cánh đồng khác nhau[24].

Thêm vào đó, diện tích các mảnh ruộng cũng rất nhỏ. Cá biệt có những nơi như ở Bắc Giang, Bắc Ninh, mảnh ruộng rộng nhất đo được không quá 10 thước (khoảng 210m2)[25] .Tình trạng manh mún ruộng đất như trên đã và đang ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của sản xuất và sự phát triển của kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp. Khắc phục tình trạng đó, một số địa phương bắt đầu thực hiện biện pháp dồn điền, đổi thửa. Nhưng chế độ phân chia và giao ruộng đất hiện nay đã làm chậm tiến độ và hạn chế hiệu quả của quá trình này ở các địa phương. Đó là chưa kể cho đến nay, Nhà nước ta vẫn chưa có chính sách và hướng dẫn cụ thể để thực hiện giải pháp nói trên.

3- Bên cạnh đó, hiện tượng tích tụ, tập trung ruộng đất một cách tự do đang có xu hướng gia tăng.

Mặc dù đây là một xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường hiện nay nhưng quá trình tích tụ ruộng đất trên thực tế đang làm nẩy sinh nhiều vấn đề phức tạp do quá trình chuyển nhượng không được thực hiện đúng các quy định do pháp luật quy định. Hầu hết các hộ chuyển nhượng ruộng đất theo phương thức mua bán trao tay mà không làm thủ tục tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Thực trạng trên đòi hỏi chính quyền Nhà nước phải có các biện pháp cụ thể và kiên quyết hơn nhằm kiểm soát và tiến tới chi phối chiều hướng hoạt động của thị trường đất đai nói chung, ruộng đất nói riêng, tạo điều kiện cho nền nông nghiệp ở khu vực này và cả nước tiếp tục phát triển lành mạnh và nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

       Tóm lại, những biến đổi trong cơ cấu và quan hệ sử dụng ruộng đất là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất tạo nên sự tăng trưởng nhanh chóng và vững chắc của sản xuất nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng nói riêng, cả nước nói chung trong thời kì đổi mới. Ngoài thành tựu nổi bật về năng suất và sản lượng lương thực đã đạt được,  sự thay đổi trong cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũng như sự phong phú và đa dạng hoá các ngành nghề và hoạt động dịch vụ ở các vùng nông thôn đều được bắt nguồn và là hệ quả trực tiếp từ những thay đổi trong quan hệ sử dụng ruộng đất và phương thức quản lý nông nghiệp theo đường hướng đổi mới của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ những năm 1980. Tuy nhiên, thực trạng ruộng đất ở khu vực này đang đặt ra nhiều vấn đề mới và phức tạp, cần được xem xét và giải quyết kịp thời. Bên cạnh nỗi lo thiếu đất canh tác và canh tác ngày càng khó khăn trong điều kiện ruộng đất bị chia nhỏ, xu hướng mua bán và tích tụ ruộng đất một cách tự do, cùng với hiện tượng lợi dụng chiếm đoạt đất công và tranh chấp ruộng đất đang trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội nhưng vẫn còn bỏ ngỏ. Và lời giải cho những bài toán đó không phải ở các nhà nông học hay các hộ nông dân, mà trước hết thuộc về trách nhiệm của các cơ quan xây dựng chính sách và những người thực thi chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn của đất nước.



[1] Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Nông nghiệp Việt Nam 61 tỉnh và thành phố, NXB.Nông nghiệp, Hà Nội 2001, tr.137-139.

[2] Tổng hợp số liệu từ Vụ Nông nghiệp. Tổng cục thống kê. Số liệu nông nghiệp Việt Nam 35 năm (1956-1990), Hà Nội 1991, tr.61, 67.

[3] Tổng cục thống kê. Hiện trạng sử dụng đất năm 1985, 1987. Tổng cục quản lý ruộng đất.

[4] Vụ Nông nghiệp. Tổng cục thống kê. Số liệu nông nghiệp…, Sđd, tr.22.

[5] Trương Thị Tiến. Đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1998, tr.8.

[6] Tổng hợp số liệu từ: Tổng cục thống kê. Hiện trạng sử dụng đất các năm (từ 1990 đến 2002)

[7] Tổng cục địa chính. Hiện trạng sử dụng đất đai theo đơn vị hành chính năm 2002 (khu vực đồng bằng Bắc Bộ). Hiện trạng sử dụng đất năm 2002.

[8] Tổng cục thống kê. Kinh tế - xã hội Việt Nam 3 năm 201-200, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003, tr.157.

[9] Vũ Phạm Quyết Thắng. Những biện pháp tích cực nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở đồng bằng sông Hồng // Nghiên cứu kinh tế, số 215, tháng 4/1996, tr.37.

[10] Tổng cục địa chính. Hiện trạng sử dụng đất năm 2002.

[11] Tổng cục địa chính. Hiện trạng sử dụng đất năm 2002

[12] Tổng hợp số liệu từ các nguồn sau:

            -     Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Số liệu thống kê ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn 1996-2000, NXB.Nông nghiệp, HàNội, 2002, tr.130-134.

  • Tổng cục thống kê: Số liệu thống kê nông, lâm nghiệp, thuỷ sản Việt Nam từ năm 1990 đến năm 1998 và dự báo năm 2000. Nxb Thống kê, Hà Nội, 1999.
  • Tổng cục thống kê: Niên giám thống kê 1994. Nxb Thống kê, Hà Nội, 1995
  • Nguyễn Sinh Cúc. Nông nghiệp Việt Nam từ năm 1945 đến 1995. NXB Thống kê, Hà Nội, 1995.
  • Nguyễn Sinh Cúc. Thực trạng nông nghiệp nông thôn và nông dân Việt Nam từ năm 1976 đến 1990. Nxb Thống kê, Hà Nội, 1991.
  • Tổng cục Thống kê. Vụ Nông nghiệp. Các số liệu về tình hình sản xuất lương thực thực phẩm năm 2001,2002,2003 (Tài liệu lưu hành nội bộ).

[13] Đinh Huyện, Thái Bá Lý. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Cẩm Bình. Báo Nhân dân số ra ngày 21/3/1994, tr. 2.

[14] Nguyễn Oanh, Nguyễn Thế Đắc. Thái Bình dáng dấp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Báo Thái Bình số ra ngày 14/3/1996, tr.2.

[15] Tổng hợp số liệu từ:

  • Nguyễn Sinh Cúc. Nông nghiệp Việt Nam…, Sđd.
  • Tổng cục Thống kê. Niên giám thống kê 1994. Sđd.
  • Tổng cục Thống kê. Số liệu thống kê nông – lâm nghiệp, thuỷ sản…., Sđd.

Tổng cục Thống kê. Niên giám thống kê 2003, NXB.Thống kê, Hà Nội, 2004, tr.79, 84, 86.

[16] Nguyễn Văn Khánh. Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (qua khảo sát một số làng xã), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.23.  

[17] Tổng cục thống kê. Hiện trạng sử dụng đất năm 1985, 1990-1998, Tổng cục quản lý ruộng đất.

[18] Nguyễn Văn Khánh. Biến đổi cơ cấu ruộng đất…, Sđd, tr. 53

[19] Nguyễn Văn Khánh. Biến đổi cơ cấu ruộng đất…, Sđd, tr. 53

[20] Nguyễn Văn Khánh. Biến đổi cơ cấu ruộng đất…, Sđd, tr. 53

[21] Bạch Hồng Việt. Mấy vấn đề phát triển kinh tế xã hội nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng // Nghiên cứu kinh tế, số 216, tháng 5/1996, tr.54

[22] Lê Mạnh Hùng. Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998, tr.103-104.

[23] Lê Mạnh Hùng. Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Sđd

[24] Nguyễn Điền, Một số vấn đề về ruộng đất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, Tc Nghiên cứu kinh tế, số 238, tháng 3/1998

[25] Trương Hữu Quýnh, Mấy suy nghĩ về nông thôn đồng bằng Bắc Bộ từ góc độ sở hữu, Tc. Nghiên cứu Lịch sử, số 4 năm 1993, tr. 4

Nguồn:khoalichsu.gov.vn