
Làng Sen và Nhà tưởng niệm Bác Hồ nhìn từ trên cao
Thực hiện Chỉ thị số 21/CT-TTg, ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, ngày 22/5/2026, UBND tỉnh Nghệ An ban hành Công văn 5620/UBND-TH về khẩn trương triển khai các nhiệm vụ thực hiện Chỉ thị 21/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Ngày 24/5/2026 Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An cũng đã có Công văn số 3775/SNV-XDCQ&CTTN về việc xây dựng phương án sắp xếp khối, xóm, thôn, bản trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Phấn đấu đến ngày 30/6/2026 phải hoàn thành tất cả các nội dung công việc. Ngoài việc nêu các yêu cầu, nhiệm vụ, lộ trình, các bước tiến hành… tất cả các văn bản nêu trên yêu cầu “sắp xếp phải phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; chú trọng các yếu tố về vị trí địa lý, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, điều kiện sinh hoạt và nguyện vọng của Nhân dân”. Như vậy yếu tố văn hóa và lịch sử một lần nữa được đề cập một cách thiết thực khi sáp nhập các địa bàn dân cư, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước các cấp trong việc giữ hồn cốt của từng vùng đất.
Theo lý thuyết định danh, mỗi tên gọi địa danh đều bao gồm hai yếu tố là vỏ ngôn ngữ và ý nghĩa của danh xưng. Ngôn ngữ giúp nhận diện, phân biệt các địa phương khác nhau. Các yếu tố lịch sử, văn hóa, địa lý…lại làm nên nội dung của địa danh, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội từ xưa đến nay. Trở lại ngọn nguồn lịch sử, thực ra, đơn vị hành chính xưa nay của nước ta không có đơn vị nào gọi là làng. Đơn vị cơ sở thời phong kiến gồm có xã, thôn, ấp, trại, phường, ty, còn đơn vị hành chính từ Cách mạng Tháng Tám về sau là thôn, ấp, đội (thời HTX Nông nghiệp)…, nhưng trong tâm thức của người dân, làng là nơi chôn rau cắt rốn, là quê cha đất tổ - một khái niệm nằm trong dân gian mà nếu chiếu vào danh hiệu hành chính nhà nước phong kiến thì đó chính là xã, thôn, ấp, trại, phường, ty, những đơn vị dân cư cơ sở. Cũng có khi người ta gọi ghép là làng thôn hay làng xã. Sách “Làng xã Việt Nam - một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội” (NXB Chính trị Quốc gia, 2000) có viết: “Làng là đơn vị tụ cư dân sự, xã là đơn vị chính quyền cơ sở”. Có thể hiểu các hiệu danh chính thống xã, thôn… nặng về hành chính, còn hiệu danh dân gian (làng) nặng về chiều sâu văn hóa và đời sống. Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay, danh hiệu hành chính cơ sở cũng gọi là xã, thôn, mà không có danh hiệu làng. Nhưng làng vẫn mặc nhiên tồn tại. Và cũng vì đặc điểm “văn hóa làng xã” như là một đặc trưng nổi bật trong văn hóa Việt Nam nên gần đây khi cụ thể một số nội dung của cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tại khu dân cư”, Nhà nước và ngành chức năng đã xét tặng danh hiệu “làng văn hóa” mà không phải là thôn, xóm văn hóa.
Như vậy rõ ràng là ở Việt Nam, làng không chỉ là một đơn vị cư trú. Làng là một cấu trúc văn hóa, là sản phẩm của sự tích tụ, cấu kết cộng đồng qua nhiều thập niên, nhiều thế kỷ, thậm chí thiên niên kỷ. Đằng sau một cái tên làng thường không chỉ là địa danh, mà là lịch sử lập làng, là đình chùa miếu mạo, là lễ hội, hương ước, nghề truyền thống, quan hệ họ tộc, ký ức mưu sinh và cả cách con người nhận diện mình giữa một không gian xã hội rộng lớn hơn.

Làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu trước đây) là một làng khoa bảng nổi tiếng cả nước.
Bởi thế trong quá trình sáp nhập thôn, tổ dân phố, người dân cả nước nói chung cũng như Nghệ An nói riêng có nguyện vọng là nên và phải bảo tồn tên gọi các làng đã có từ xa xưa, nhất là những nơi có truyền thống văn hóa, lịch sử nổi bật, như: làng Sen, làng Hoàng Trù quê nội và quê ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở trong tiềm thức của Nhân dân và nhân loại tiến bộ. Từ lâu đã có những câu ca: Bắc Hà - Hành Thiện (Nam Định), Hoan Diễn - Quỳnh Đôi gọi tên những làng khoa bảng nổi tiếng nhiều đời. Ở vùng Bắc Bộ có làng Đông Hồ với tranh dân gian, làng Bát Tràng với nghề gốm sứ, làng Đồng Kỵ với nghề mộc, làng Vạn Phúc có nghề ươm tằm dệt lụa…Ở Nghệ An các làng Đông Phái ở Diễn Châu, Đông Bích ở Đô Lương, Nhạn Tháp ở Yên Thành, Ba Nghè, Vịnh ở Thanh Chương trước đây… đều là những cái tên rất đẹp gắn liền với truyền thống văn hóa, khoa bảng, nghề cổ truyền… cần phải giữ trong quá trình tiến hành sắp xếp lại thôn, tổ dân phố theo chủ trương mới.

Làng Vịnh (xã Đại Đồng) có nghề làm bánh đa truyền đời từ hàng trăm năm
Thực tế cũng đã cho thấy, sau những lần thay đổi địa giới, đổi tên, chia tách hay sáp nhập trước đây, nhiều làng vẫn giữ được tên gọi quen thuộc trong đời sống cộng đồng, dù trên giấy tờ hành chính có thể đã chuyển thành thôn, xóm hay tổ dân phố. Điều đó chứng tỏ rằng, cải cách hành chính và bảo tồn bản sắc văn hóa không loại trừ nhau. Một thôn mới được hình thành sau sáp nhập để thuận lợi cho quản lý, nhưng bên trong thôn đó vẫn cần phải tiếp tục thừa nhận những tiểu không gian văn hóa cũ: Đó là làng cũ, nghề cũ, cụm dân cư truyền thống cũ. Một cái tên được truyền từ nhiều đời sẽ giữ lại mạch ký ức lịch sử; một cái tên hời hợt có thể tạo cảm giác mất gốc, lạc chỗ ngay trong chính quê hương mình. Các quy định hiện hành, đặc biệt là Nghị định 185/2026/ NĐ - CP đã xác định rõ việc thành lập, giải thể, nhập, chia, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố là nội dung thuộc thẩm quyền quyết định của địa phương và được cơ quan nội vụ tham mưu, quản lý. Điều đó có nghĩa là địa phương cấp xã hoàn toàn có trách nhiệm và cũng có dư địa để lựa chọn một phương án đặt tên thận trọng, có cân nhắc chiều sâu văn hóa, thay vì làm theo lối cơ học, đánh số đơn thuần, hoặc ghép tên một cách khô cứng. Chính vì vậy, trong đề án sắp xếp thôn, tổ dân phố trước lúc đưa ra xin ý kiến Nhân dân nên có một phần về lịch sử truyền thống, lập danh mục tên làng cổ, tên xóm cổ, tên không gian văn hóa truyền thống cần ưu tiên bảo lưu. Tiếp đó là đánh giá tác động văn hóa, rà soát yếu tố lịch sử, di sản, tín ngưỡng, lễ hội, nghề truyền thống, cấu trúc cộng đồng trước khi quyết định phương án. Sau sáp nhập, cần sử dụng linh hoạt mô hình “tên hành chính mới” nhưng vẫn ghi nhận, bảo tồn và quảng bá “tên văn hóa truyền thống” trong biển chỉ dẫn, hồ sơ di sản, sản phẩm du lịch, dữ liệu số, giáo dục địa phương và sinh hoạt cộng đồng. Các tiêu chí cần đạt khi đặt tên mới là rõ ràng, dễ nhận diện, thuận lợi cho quản lý. Đồng thời tôn trọng lịch sử hình thành cộng đồng, chiều sâu văn hóa phù hợp với bản sắc địa phương. Nhắc tới một làng không chỉ nhắc tới một tọa độ địa lý, mà là nhắc tới một câu chuyện có thể phát triển thành sản phẩm văn hóa, tuyến du lịch, chương trình giáo dục di sản, bộ nhận diện sáng tạo của địa phương.

Biểu trưng của làng Ba Nghè (xã Bích Hào)
Theo lý thuyết định danh, mỗi tên gọi (địa danh) đều bao gồm hai yếu tố là vỏ ngôn ngữ và ý nghĩa của danh xưng. Tín hiệu ngôn ngữ trong địa danh giúp nhận diện, phân biệt các địa phương khác nhau. Tín hiệu lịch sử, văn hóa, địa lý… sẽ làm nên nội dung của địa danh. Tên gọi theo cách đánh số 1, 2, 3… đã không còn và không nên tồn tại.
Nghi định 185/2026/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ, Chỉ thị số 21/CT-TTg, ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ và các Công văn của UNBND tỉnh, Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An đều đặc biệt lưu ý “xem xét đầy đủ các yếu tố đặc thù về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện địa lý, quốc phòng, an ninh và sự gắn kết tự nhiên của cộng đồng dân cư, nhất là tại địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn có yếu tố tôn giáo; gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở, thúc đẩy chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vũng, mục tiêu tăng trưởng “2 con số” và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân… Đây chính là dịp để các xã, phường và cộng đồng dân cư tìm đặt tên mới cho các vùng dân cư một cách phù hợp. vừa đảm bảo tính quản trị vừa bảo tồn các giá trị lịch sử, văn hóa.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị “về phát triển văn hóa Việt Nam” cũng đã nhấn mạnh: văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng; các giá trị văn hóa cần thấm sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội; và xây dựng, phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Theo tinh thần đó việc sắp xếp thôn, tổ dân phố cũng không thể chỉ là câu chuyện của bộ máy, mà phải là câu chuyện của văn hóa phát triển. Cần coi chính quá trình sắp xếp này là dịp để nhận diện, bảo tồn và phát huy mạnh hơn các giá trị làng xã trong điều kiện mới.
TĐH