Góc nhìn văn hóa

Lực lượng vũ trang Liên khu IV với chiến thắng Điện Biên Phủ

Chiến thắng Đông Xuân 1953-1954, chiến thắng Điện Biên Phủ đã đánh bại kế hoạch Nava của thực dân Pháp, “đánh dấu sự thất bại không thể cứu vãn nổi của quân đội viễn chinh Pháp, kết thúc vĩnh viễn chế độ thống trị của thực dân Pháp kéo dài gần một thế kỷ trên đất nước ta” (Phạm Văn Đồng). Trong chiến công to lớn đó, có sự đóng góp không hề nhỏ của lực lượng vũ trang và Nhân dân Liên khu IV.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp quyết định mở Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nguồn: hochiminh.vn

Chiến dịch Trung Lào kéo giãn đội hình địch

Ngày 24/7/1953, kế hoạch quân sự toàn diện của Nava được Chính phủ và Hội đồng quốc phòng Pháp thông qua.

Để đối phó với kế hoạch Nava của địch, cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp bàn về nhiệm vụ quân sự, phân tích sâu sắc thế chiến lược giữa ta và địch, ra nghị quyết thông qua kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954. Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy và giao cho Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, trực tiếp làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng mặt trận.

Để phân tán lực lượng địch, tạo thuận lợi cho trận quyết chiến ở Điện Biên Phủ, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho các đơn vị chủ lực phối hợp mở đợt tiến công mạnh mẽ trên các chiến trường: (1) Tiến công Lai Châu, uy hiếp Điện Biên Phủ từ phía Bắc; (2) Phối hợp với quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công vào Trung Lào; (3) Tiến sâu xuống Hạ Lào và Đông Campuchia; (4) Tiến công trên mặt trận Bắc Tây Nguyên; (5) Phối hợp tiến công phòng tuyến địch tại Thượng Lào. Đồng thời, đẩy mạnh ở tuyến ngoài và sau lưng địch ở chiến trường trung du và đồng bằng Bắc Bộ, ở Bình Trị Thiên, Nam Trung Bộ, Nam Bộ để phối hợp với chiến trường chính.

Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu IV đã khẩn trương lãnh đạo chỉ huy chuẩn bị cho chiến dịch Trung Lào. Đầu tháng 12/1953, phát hiện được lực lượng và hướng tiến công của ta, địch đã điều đến Trung Lào 6 tiểu đoàn cơ động và và một tiểu đoàn pháo để đối phó. Chúng ra sức củng cố, tổ chức thành nhiều tuyến phòng ngự trên đường số 8 và đường 12, nhất là các vị trí then chốt như Ba Na Phào, Na Pê. Cùng với việc tổ chức các tuyến phòng ngự, địch còn tổ chức các cuộc tiến công ra vùng căn cứ của bạn và ta, thọc sâu quấy phá vùng biên giới Việt - Lào.

Về phía ta, Bộ Tư lệnh Liên khu IV củng cố Trung đoàn 208 đủ 3 tiểu đoàn, tổ chức các đại đội độc lập, tăng cường 200 cán bộ cho Ban cán sự Trung Lào. Chính ủy Liên khu Võ Thúc Đồng được cử sang làm Bí thư Ban cán sự và Chính ủy quân tình nguyện. Đồng chí Hoàng Sâm và Trần Quý Hai được cử tham gia Bộ Chỉ huy Mặt trận Trung, Hạ Lào.

Thực hiện kế hoạch phối hợp, phía bạn tổ chức thêm 5 Đại đội Pa-thét Lào, phía ta khẩn trương thành lập các trạm vận tải từ Nghệ - Tĩnh sang Trung Lào. Tỉnh Hà Tĩnh và 3 huyện nam Nghệ An được Trung ương giao cho nhiệm vụ cung cấp lương thực, thực phẩm cho chiến dịch Trung Lào.

Với phương châm tác chiến là: Chủ động, linh hoạt, bất ngờ, đánh chắc, diệt gọn, Bộ Chỉ huy Liên quân chiến dịch Trung Lào đã giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 325 cắt đứt Đường 13, con đường giao thông Bắc - Nam Đông Dương chủ yếu của địch ở Lào. Bị diệt một bộ phận lớn sinh lực, buộc chúng phải điều quân cơ động đến giữ Trung Lào, vì  vậy thế tập trung của tướng Na-va cho Bắc Bộ Việt Nam từng bước bị phá sản.

Đêm 21-12-1953, Tiểu đoàn 274 và 328 (Đại đoàn 325) tranh thủ lúc địch đang củng cố công sự, bất ngờ tập kích đồn Khăm He, tiêu diệt nhanh chóng Tiểu đoàn lính Âu Phi và một đại đội pháo binh địch. Trận Khăm He giáng một đòn mạnh mẽ vào tinh thần binh lính địch ở Trung Lào. Ngày 22-12-1953, Trung đoàn 66 (Đại đoàn 304) chuẩn bị tiến công các vị trí Mụ Giạ, Ba Na Phào, quân địch rút chạy. Tiểu đoàn 782 (Trung đoàn 66) của ta chạy bộ đuổi địch rút lui bằng cơ giới, nhanh chóng bơi qua sông Sê Bang Phai tiêu diệt cả Tiểu đoàn số 2 thuộc bộ binh thuộc địa RTM, bắt sống 40 tên ở Pa Cuội.

Chỉ trong 3 ngày, 3 tiểu đoàn lính Âu Phi cơ động và 1 tiểu đoàn pháo binh gồm 2.200 tên bị tiêu diệt. Quân địch hoảng hốt bỏ cả phòng tuyến tháo chạy.

Ngày 25-12-1953, Liên quân Lào Việt tiến đến sông Mê Kông, giải phóng thị xã Thà Khẹt. Tiếp đó, lợi dụng sơ hở của địch, Trung đoàn 66 mở một loạt cuộc tiến công tiêu diệt các vị trí Hiu Xìu, Đồng Hến, Pha Lan, Mường Phía, cắt đường số 9 và giải phóng miền Đông Xavannakhét.

Tích cực, chủ động, linh hoạt, hai Trung đoàn 66, 101 đã cùng Quân giải phóng Pa thét Lào áp đảo quân địch, giải phóng hầu hết vùng Trung Lào rộng lớn.

Trong chiến dịch Trung Lào, Liên khu 4 phối hợp với Bạn đã loại khỏi vòng chiến đấu 6.100 tên (hầu hết là lính Âu - Phi tinh nhuệ, thu 1.200 khẩu súng, hơn 2.000 xe ô tô quân sự. Phá tan tuyến phòng ngự đường 8, 12 của địch. Giải phóng một vùng rộng lớn 400.000km2 và 40.000 dân.

Bình Trị - Thiên chia lửa

Cùng với chiến dịch Trung Lào, quân và dân Liên khu IV đã đẩy mạnh đánh địch ở Bình Trị Thiên để chia lửa với Điện Biên Phủ. Lúc này ở địa bàn Bình trị Thiên, quân địch có khoảng 30.000 tên, thường xuyên tổ chức càn quyét để bình định có trọng điểm ở vùng đồng bằng Quảng Trị, ven đường 9 và nam Thừa Thiên, tăng cường phòng ngự đường 1, đường sắt, của biển Lăng Cô để đề phòng quân ta chuia cắt đường từ Đà Nẵng ra Huế. Bộ Tư lệnh Liên khu chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch, phục kích tiêu hao lực lượng địch, liên tục chiến đấu phối hợp với các chiến trường trong Đông Xuân 1953 - 1954.

Ngày 22 tháng 12 năm 1953, quân ta nổ súng tiến công ở Vĩnh Linh, Gio Linh, tiêu diệt 5 vị trí địch ở Sen Hạ, Chợ Da, Hà Tây, Đằng Đằng và Dốc Miếu. Từ 28-30/12/1953 chống phá trận càn lớn của địch vào Liêm Hóa, Quang Hóa. Trong hai tháng đầu năm 1954, phối hợp với chiến dịch Trung Lào, quân dân Bình Trị Thiên liên tiếp đánh mạnh trên đường số 1, số 9 và đường xe lửa, phá nhiều cầu cống, nhiều đoàn tàu và xe quân sự làm tắc nghẽ giao thông của địch. Cùng lúc ở phía đông đường 9, trung đoàn 18 và lực lượng vũ trang Quảng Trị tiến công địch trên tuyến dài từ Cam Lộ đến Lao Bảo, giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hóa và một phần huyện Cam Lộ. Sau đó trung đoàn 18 tiến lên Sê Pôn tham gia chiến dịch Trung Lào trong đội hình sư đoàn 325. Các lực lượng vũ trang địa phương Bình Trị Thiên còn tổ chức luồn sâu vào lòng địch, đánh thắng nhiều trận. Ngày 28/1/1954 đánh trận chống càn ở Triệu Sơn (Triệu Phong), phá tan âm mưu bình định vùng Cửa Việt, Cửa Tùng và đồng bằng hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng. Ngày 6/2/1954, tiểu đoàn tỉnh Thừa Thiên luồn sâu vào vùng tạm chiếm tập kích vào Niêm Phổ thắng lợi.

Ngày 22/2/1954 đánh thắng trận càn của 5 tiểu đoàn địch vào vào hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng.

Từ nửa cuối tháng 3-1954, Liên khu IV đã đồng loạt tấn công địch.

Tại Quảng Bình, bộ đội địa phương đã đánh địch 265 trận, tiêu diệt 763 tên làm bị thương 137 tên, bắt sống 66 tên, thu 104 súng, 14.407 viên đạn các loại, phá 16 xe và 4 lô cốt.

Lực lượng du kích đã đánh địch 217 trận, trong đó có 2 trận chống càn, tiêu diệt 58 tên địch, làm bị thương 56 tên, bắt 18 tên gián điệp, phối hợp với các đơn vị chủ lực diệt 3 vị trí, 2 lô cốt, phá 4 xe vận tải, cắt 14 km dây điện thoại.

Quân và dân Thừa Thiên - Huế đã đánh 202 trận, trong đó có 32 trận chống càn, tiêu diệt 1.569 tên, làm bị thương 362 tên, bắt sống 272 tên, phá huỷ 25 xe, 45 đầu máy và 80 toa xe lửa, thu 472 súng, phá 14 cầu, cắt 29 km dây điện thoại.

Đấu tranh địch vận được đẩy lên một bước: rải 13 vạn truyền đơn, tổ chức 35 vụ đấu tranh (14 vụ có lãnh đạo), vận động ngụy binh ra hàng được 1.469 người, vận động 1.734 gia đình ngụy binh và 421 gia đình đi đòi chồng con về.

Tại Quảng Trị, Nhân dân đã rải 5 vạn truyền đơn địch vận và 302 lần gọi loa, giáo dục 2.514 gia đình ngụy binh, lôi kéo 599 nguỵ binh về với kháng chiến; giải tán 700 hương vệ ở Hướng Hóa, thu 305 súng các loại.

Chiến thắng của quân dân Bình Trị Thiên cùng với chiến thắng ở các chiến trường khác đã tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta tiến công địch ở Điện Biên Phủ.

Chi viện cho Điện Biên Phủ

Ngày 9-11, Ban Bí thư ra Thông tri Về nhiệm vụ cung cấp cho mặt trận gửi các Liên khu ủy Việt Bắc, Liên khu ủy III và IV. Theo đó, tỉnh Hà Tĩnh và một phần nam Nghệ An cung cấp cho chiến dịch Trung Lào; tỉnh Thanh Hóa và các huyện bắc Nghệ An cung cấp cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong chiến dịch Thượng Lào, Nghệ An huy động 72.440 dân công, sửa 170 km đường, làm 100 cầu, vận chuyển 700 tấn gạo, lương thực, thực phẩm. Thanh Hóa đã huy động được 114.000 dân công dài hạn, 149.000 dân công ngắn hạn, 2.000 xe đạp thồ, 1.300 thuyền, 180 con ngựa, 8 xe ô tô, vận chuyển 8.000 tấn gạo, hàng chục tấn muối, cá, thịt, rau...

 

Đội quân xe đạp thồ huyện Diễn Châu trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh TL

Trong chiến dịch Trung Lào, Nghệ An đã huy động hơn 20.000 dân công bộ và thuyền, gần 1.500 xe đạp thồ chủ yếu phục vụ trung tuyến và hỏa tuyến. Hà Tĩnh đóng góp 28.300 người trực tiếp phục vụ trên đất Lào, cung cấp 3.409 tấn gạo, 154 tấn muối, 2.102 con trâu, bò, cấp phát 50 tấn vũ khí đạn dược.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã nỗ lực tham gia vận tải, cứu thương trong suốt thời gian dài của chiến dịch. Đóng góp cho chiến trường 4.361 tấn gạo, 355 tấn thực phẩm, 2.000 con lợn, 325 con trâu bò và hàng nghìn ngày công. Huy động gần 53.000 người, 2.217 xe đạp thồ, 342 xe cut - kit, 1.048 thuyền vận tài để vận chuyển lương, thực phẩm và vũ khi ra Điện Biện Phủ. Riêng Nghệ An đã huy động 6.600 dân công với tổng số đóng góp hơn 1 triệu rưỡi ngày công; sửa chữa và mở các tuyến đường mới với chiều dài 320 km, bắc 3 cầu lớn, 32 cầu nhỏ, 53 cống qua các địa bàn trọng yếu dẫn ra tiền tuyến.

Đội dân công hỏa tuyến huyện Quỳnh Luu trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh TL

Đặc biệt, Liên khu IV sau khi hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân năm 1953 đã chủ động tuyển thêm 4.000 tân binh. Kế hoạch đầu năm 1954, được giao tuyển 4.200 cho Bộ nhưng trong 6 tháng đầu năm 1954, toàn Liên khu đã cung cấp cho Bộ 14.553 tân binh, chưa kể quân số của Trung đoàn 53 và Tiểu đoàn 362 mà Bộ đã điều toàn bộ đơn vị lên Việt Bắc. Ngoài ra còn tuyển thêm 1.833 tân binh để phát triển bộ đội chủ lực của địa phương.

Chiến dịch Trung Lào, các hoạt động chiến đấu ở Bình Trị Thiên và những nỗ lực đảm bảo hậu cần của quân dân Liên khu IV trong Đông Xuân 1953 - 1954 đã phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi. Đó cũng là một sáng tạo trong nghệ thuật quân sự - yếu tố quan trọng hàng đầu đảm bảo cho mọi thắng lợi của quân đội ta trong các cuộc chiến tranh giữ nước./.

 

tin tức liên quan

Thống kê truy cập

114459618

Hôm nay

28

Hôm qua

2278

Tuần này

2550

Tháng này

215820

Tháng qua

120464

Tất cả

114459618