“Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi”
(Tự thuật 9 - Nguyễn Trãi)
“Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi”
(Tự thuật 9 - Nguyễn Trãi)
Nhà văn Nguyễn Minh Châu - thân thế và sự nghiệp văn học
Nhà văn Nguyễn Minh Châu (tên khai sinh và bút danh), sinh ngày 20/10/1930, quê quán làng Thôi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; mất ngày 23/01/1989, tại Hà Nội. Từng học Trường Kỹ nghệ Huế, 1944-1945. Sau khi tốt nghiệp Thành chung, ông học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng. Tháng 1/1950, ông gia nhập quân đội, được đào tạo chính quy ở Trường sỹ quan Trần Quốc Tuấn; từ 1952-1956, Nguyễn Minh Châu công tác tại Ban tham mưu Tiểu đoàn 772, 706 thuộc Sư đoàn 320. Từ 1956-1958, ông là Trợ lý văn hóa Trung đoàn 64, thuộc Sư đoàn 320. Từ 1961, ông công tác tại Phòng Văn nghệ, Tổng cục Chính trị. Năm 1962, công tác tại Tạp chí Văn nghệ quân đội, làm việc tại đó cho đến khi mất (1989).
Sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu được đánh dấu bằng tác phẩm đầu tay Cửa sông (tiểu thuyết, 1967). Một đời văn với số lượng tác phẩm xuất bản không nhiều về số lượng (18) nhưng hợp với quy luật sáng tạo nghệ thuật “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Các tác phẩm đã xuất bản (8 tiểu thuyết): Cửa sông (1967), Dấu chân người lính (1972), Từ giã tuổi thơ (1974), Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những ngày lưu lạc (1981), Những người đi từ trong rừng ra (1982), Mảnh đất tình yêu (1987); truyện ngắn (6 tập): Những vùng trời khác nhau (1970), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê (1985), Đảo đá kỳ lạ (truyện viết cho thiếu nhi, 1985), Chiếc thuyền ngoài xa (1987), Cỏ lau (1989); tiểu luận phê bình (1 tập ): Trang giấy trước đèn (1994), các trước tác khác: Nguyễn Minh Châu toàn tập (5 tập, 2001), Di cảo Nguyễn Minh Châu (2009), Nguyễn Minh Châu tác phẩm chọn lọc (2009).
Các giải thưởng văn học chính: Giải thưởng Bộ Quốc phòng (1984-1989) cho toàn bộ tác phẩm viết về chiến tranh và người lính; Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1988-1989) cho tập truyện Cỏ lau; Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT, năm 2000 cho các tác phẩm: Dấu chân người lính, Cửa sông, Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành; Tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025) dành cho Cỏ lau (tập truyện, 1989) do Bộ VH,TT&DL vinh danh.
Các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Minh Châu (truyện ngắn) đã được đưa vào chương trình Ngữ văn các cấp học phổ thông qua nhiều năm: Mảnh trăng cuối rừng, Bến quê, Bức tranh, Chiếc thuyền ngoài xa.
Nguyễn Minh Châu - nhà văn tiên phong của văn học đổi mới
Nếu nói Nghệ An là miền đất văn chương thì đồng thời cũng có thể nói trúng và đúng nơi đây là quê hương của các nhà văn từng mặc áo lính đi tiên phong trong phong trào đổi mới văn học từ sau 1975, đặc biệt từ sau 1986, với sự góp công lớn của Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Minh Châu, Vương Trọng, Trần Huy Quang, Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Trần Cương.
Ngay từ năm 1977, khi xuất bản Miền cháy (tiểu thuyết), theo chúng tôi, tinh thần đổi mới văn học của Nguyễn Minh Châu đã hiển hiện khi nhà văn với cái nhìn thấu thị thời cuộc, đã nhấn mạnh một vấn đề triết lý nhân sinh sâu sắc: Bước ra khỏi cuộc chiến tranh chúng ta cũng cần được chuẩn bị kỹ càng như khi bước vào nó. Khi chiến tranh kết thúc, vấn đề của thời hậu chiến (cuộc đấu tranh nội tâm để hoàn thiện nhân cách) rất khác với thời chiến tranh đang diễn ra (lòng dũng cảm trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù). Chúng ta sẽ đối diện với những mâu thuẫn, xung đột tinh thần mới trong hình thái tư tưởng, tình cảm mới - hòa giải, hòa hợp dân tộc như thế nào để phù hợp với nhân tâm thời đại trên tinh thần đoàn kết đồng bào với truyền thống “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn/Lấy chí nhân thay cường bạo” (Nguyễn Trãi). Miền cháy được viết theo tinh thần của “cái bi kịch”, có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người, đề cao cái trác tuyệt của người Mẹ Việt Nam vĩ đại, người có khả năng bao dung và độ lượng chữa lành những vết thương của chiến tranh, san lấp hố sâu hận thù của đồng loại do hậu quả chiến tranh gây ra.
Nhưng có thể nói, nhà văn Nguyễn Minh Châu thực sự đóng vai trò người mở đường tinh anh và tài năng đổi mới văn học nước nhà khi đăng hàng loạt truyện ngắn có chất lượng tư tưởng và nghệ thuật cao như Bến quê, Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Một lần đối chứng, Sống mãi với cây xanh, Khách ở quê ra,...Tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) trong năm 1985 đã tổ chức thảo luận về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, các ý kiến khen chê đều rất sôi nổi, quyết liệt đến mức chia đôi dư luận. Có nhiều ý kiến khẳng định thành công hiển nhiên của Nguyễn Minh Châu qua cách tân truyện ngắn, đã tạo cơ hội nâng văn học lên tầm cao mới về tư tưởng và nghệ thuật. Trái lại, cũng có không ít ý kiến cho rằng nhà văn đã phần nào “đánh mất cảm hứng anh hùng của ngòi bút” và chỉ mới “thành công một nửa”?!. Cuộc tranh luận về Nguyễn Minh Châu, tương tự về Nguyễn Huy Thiệp trong ngữ cảnh ấy thực sự là “vô tiền khoáng hậu”. Đúng vào cao trào ấy, nhà văn công bố tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (in trên báo Văn nghệ, số 49-50, năm 1987). Nó như một tiếng sét giữa bầu trời đang xanh trong, gây choáng váng với dư luận xã hội và văn giới. Thoạt đọc, nhiều người vội vàng nghĩ nhà văn có chủ ý phủ định nền văn học cách mạng giai đoạn 1945-1975. Nhưng đọc kỹ, lại thấy cái tâm và cái tầm ngời sáng của nhà văn, cái khát vọng và thiện chí vượt qua những rào cản, những hạn chế để góp sức đưa văn học nước nhà tiến lên một trình độ mới. Ông viết “Sự còn lại mất đi của số phận những tác phẩm văn học cũng như những đời văn trong độ lùi thời gian, bao giờ cũng ngầm chứa đựng một sự lựa chọn đầy huyền diệu và công bằng” (Nguyễn Minh Châu tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 462). Nguyễn Minh Châu là nhà văn đầy ắp nhiệt huyết dấn thân, dũng cảm lựa chọn và xả thân vì chân lý nghệ thuật. Ông là nhà văn có nền tảng văn hóa vững bền, một điển hình của phẩm cách nghệ sỹ. Đó chính là cơ sở thực tiễn để nhà văn xứng đáng nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT.
“Có lau” - một mốc son đỏ trên lộ trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu Có thể nói không quá, Cỏ lau là một lưu dấu văn hóa của một kiểu văn học “đáng thờ”, vì nó hướng về con người theo tinh thần “nhân vị”. Cỏ lau trở thành một biểu tượng nghệ thuật ngôn từ mà nhiều nghệ sỹ đã sử dụng để tôn vinh cái đẹp chính là cuộc đời, như trường hợp Thanh Thảo với Dấu chân qua trảng cỏ (thơ), Lê Hoài Nam với Thanh xuân như cỏ (tiểu thuyết).
Rất ít trường hợp một tác phẩm văn học ba lần được xướng tên trong những giải thưởng lớn, ba lần bước lên đài vinh quang như tập truyện Cỏ lau của nhà văn Nguyễn Mình Châu. Nói không quá thì đó là một kỳ đài văn học (nghệ thuật ngôn từ). Có thể vì, văn học luôn đứng trước, đứng đầu phạm trù “văn học nghệ thuật”. Cỏ lau (tập truyện ngắn, NXB Văn học, H Nội, 1989, 178 trang, Giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt Nam, 1988-1989). Cỏ lau là một mục từ quan trọng trong sách Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (Tập 3, từ sau 1975, trang 184-188) do NXB Giáo dục Việt Nam ấn hành, 2010. Cỏ lau là tập truyện ngắn cuối cùng của nhà văn Nguyễn Minh Châu xuất bản sau khi ông mất, gồm ba truyện: Cỏ lau (đăng trên Tạp chí Tác phẩm mới, số 1/1988), Mùa trái cóc ở miền Nam (chưa đăng báo) và Phiên chợ Giát (viết vào những ngày ông bị trọng bệnh và kịp hoàn thành trước khi mất). Xét về không gian tồn tại, ba truyện này tạo nên thế vững như kiềng ba chân. Tuy mỗi truyện ánh lên một vẻ đẹp khác nhau nhưng chúng gặp nhau ở một sắc thái tư tưởng và nghệ thuật quan trọng - đó là giá trị của sự sống, ý nghĩa và sự quý giá của sinh mệnh con người trong một thế giới ở đó sự sống không bao giờ chán nản.
Truyện Cỏ lau được Nhà xuất bản Văn học lấy đặt tên cho tập truyện cuối cùng trong văn nghiệp Nguyễn Minh Châu, với độ dài 40 trang (có sách ghi là truyện vừa). Mô- típ cốt truyện “người chết sống lại”, trở về với gia đình sau chiến tranh như chúng ta thường thấy trong thực tế. Bởi bố chiến sỹ Lực và vợ anh (cô Thai), chính họ đã tự tay chôn cất một người mà họ đinh ninh là con trai mình và chồng mình. Người lính (tên Lực) trở về nhà sau chiến tranh khi trong ngôi nhà của mình hiện diện người đàn ông lạ (tên Quảng) là “chồng của vợ mình”?! Tình huống tâm lý - đạo đức xảy ra khiến hai người đàn ông (Lực và Quảng) và người phụ nữ (tên Thai) buộc phải quyết định lựa chọn. Số phận con người do chiến tranh chi phối thật là cay đắng và nghiệt ngã. Cô Thai buộc phải “chọn một dòng hay để nước trôi”?! Cô Thai muốn trở về với người chồng đầu tiên của đời mình. Nhưng cô lại đã có con với Quảng. Tất cả sự đời éo le này là do chiến tranh gây ra. Với Lực thì “Chiến tranh, kháng chiến, không phải như một số người khác, đến bây giờ tôi không hề mảy may hối tiếc đã dốc tất cả tuổi trẻ vào đấy cống hiến cho nó, nhưng nó như một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thật khó gắn liền liền lại như cũ”. Đau đớn thay “Hai mươi bốn năm, cả tôi và Thai đều đã già. Chúng tôi đã mất nhau cả một thời trẻ tuổi, nhưng trừ phi kẻ sống người chết, bây giờ gặp nhau chúng tôi không thể nào quen được trông thấy mỗi người có một cuộc đời khác. Chúng tôi vẫn còn yêu nhau. Tôi không dám nghĩ đến ngày mai Thai lại trở về với gia đình. Tôi biết rằng chỉ có người đàn bà đang đi bên cạnh, giữa đáy con sông khô này mới có thể xoa dịu bao nhiêu vết thương mà chiến tranh đã để lại trong lòng tôi”.
Một kết thúc đẹp trong nỗi buồn mênh mông: Lực tự nguyện ra đi, anh tìm lên núi làm nhà ở, sống giữa thiên nhiên xung quanh núi rừng đầy cỏ lau để tự trấn tĩnh, an nhiên mình, để Thai được sống trong cái tổ ấm mới của mình. Đó là sự vô thường. Đó là lòng cao thượng của người lính chân chính có tên Lực. Anh đã “sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Đó chính là một bài ca về người lính, là giai điệu tự hào về anh bộ đội Cụ Hồ.
Truyện Cỏ lau đã được chuyển thể thành phim điện ảnh, năm 1993 (Kịch bản Lê Hoài Nguyên, Đạo diễn Vương Đức), thuộc xê-ri phim chiến tranh cách mạng thành công khác như Cánh đồng hoang, Bao giờ cho đến tháng mười, Mùi cỏ cháy, Đào phở và piano, Địa đạo mặt trời trong bóng tối, Mưa đỏ.
Nếu Cỏ lau viết về sự hy sinh cao cả của người lính cả trong chiến tranh, cả trong hòa bình thì Mùa trái cóc ở miền nam lại gây ấn tượng với người đọc từ câu chuyện mẹ và con trong một gia đình đã không tìm được tiếng nói chung. Toàn, một sỹ quan giỏi (Tiểu đoàn trưởng) đã bất bình với mẹ vì bà đã lấy chồng là một thượng sỹ thuộc quân đội Sài Gòn. Không chỉ bất bình mà Toàn còn có ý khinh thường người mẹ đã mang nặng đẻ đau ra mình. Bà mẹ đã không theo chồng di tản sau 1975 với mong muốn đoàn tụ với con trai mình. Nhưng khi mẹ con gặp lại nhau sau xa cách vẫn như đôi bờ sông thiếu một cây cầu nối liền. Buồn bã và bế tắc, bà đã bò nhà cửa đi ăn mày để tự hành hạ và trừng phạt mình vì đã đẻ ra đứa con bất hiếu. Một cái kết buồn (tương tự trong Cỏ lau). Cái kết không có hậu phù hợp với cả logic đời sống và logic nghệ thuật. Nó phản ánh cái phi lý đang có nguy cơ thống ngự trong đời sống, vì thế con người cần thấu thị và biết cách ứng xử.
Thiên truyện thứ ba trong Cỏ lau có nhan đề Phiên chợ Giát (một sự tiếp tục số phận nhân vật lão Khúng trong truyện Khách ở quê ra, 1984). Trước hết, thiên truyện xuất sắc này là một khảo cứu xã hội học bằng ngôn ngữ nghệ thuật phong tục tập quán Việt Nam, văn hóa làng xã Việt Nam, gốc tích và căn tính nông dân của người Việt Nam trong không gian “địa - văn hóa tam nông” (nông thôn - nông nghiệp - nông dân). Vẫn là nhân vật lão Khúng, nay thêm “nhân vật” Bò Khoang (như một biểu tượng), cặp đôi nhân vật này trùng phùng cho ý nghĩa của sự tồn tại trên thế gian này của bất kỳ của sự vật nào. Tầm triết luận của tác phẩm thông qua hình tượng đã được nâng lên mức độ cao sâu, thâm thúy, đa nghĩa “Vĩnh biệt chúng ta, nhà văn Nguyễn Minh Châu để lại một di chúc nghệ thuật, hòa quyện máu và nước mắt, nhắn nhủ người đọc hãy nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình để thoát khỏi kiếp Bò Khoang nhẫn nhục và tiếp cận con người tự do” (Đỗ Đức Hiểu - Đổi mới đọc và bình văn, NXB Hội Nhà văn, 1999, tr. 212).
Sức sống của tác phẩm văn học nhìn từ “Cỏ lau”
Cỏ lau là một dấu son đỏ trong sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn Minh Châu nói riêng và của nền văn học Việt Nam đương đại nói chung. Nó là một tiếng nói nghệ thuật mới mẻ, giàu sức triết luận và tinh thần nhân văn về số phận con người trong và sau chiến tranh. Cỏ lau đồng thời là sự thức tỉnh ý thức về số phận của người nông dân trong một thế giới đang vỡ ra theo chiều hướng phi truyền thống. Bao hàm tất cả là tiếng nói nghệ thuật biểu đạt khát vọng được thành thật của người nghệ sỹ và khát vọng tự do của con người muôn thuở. Cỏ lau là bảo chứng của một tác phẩm có sức sống vượt thời gian và thế hệ người đọc xét từ lý thuyết tiếp nhận theo tinh thần và quy luật đồng sáng tạo. Những vấn đề then chốt về “không gian văn hóa nhân văn”, “Nhân cách văn hóa Việt Nam”, “Sức sống của con người Việt Nam” đã thấm nhuần trong hình tượng có ý nghĩa biểu tượng cỏ lau.
Tác pẩm văn học được nhận thức như một quá trình. Nơi tác phẩm kết thúc chính là nơi bắt đầu một cuộc sống mới của chính nó. Một văn bản sẽ sản sinh ra nhiều tác phẩm tùy theo cách tiếp nhận của người đọc. Sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu nói chung và Cỏ lau nói riêng có được sức mạnh của tính liên thời gian và liên thế hệ, thuộc số ít tác giả tác và phẩm văn học của nửa cuối thế kỷ 20 có đủ tư cách cấp “giấy thông hành”, chuyển giao đọc ở nửa đầu thế kỷ 21. Ít nên hiếm và quý./,
Hà Nội - Nghệ An, xuân Bính Ngọ 2026
B.T.A
2181
2416
22529
228613
1114335874
114687984