Góc nhìn văn hóa

Lễ hội đền Mai Bảng gắn với không gian văn hóa Cửa Lò, Nghệ An

Chương trình văn nghệ khai mạc Lễ hội đền Mai Bảng năm 2026

 

Lễ hội Đền Mai Bảng (phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An) là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của cư dân ven biển xứ Nghệ, gắn bó chặt chẽ với đời sống tín ngưỡng tâm linh và hoạt động mưu sinh của cộng đồng ngư dân. Trải qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển, lễ hội không chỉ phản ánh mối quan hệ hài hòa giữa con người với môi trường tự nhiên, mà còn kết tinh những giá trị đặc sắc của văn hóa biển Nghệ An. Thông qua hệ thống nghi lễ, diễn trình lễ hội và các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, lễ hội Đền Mai Bảng thể hiện rõ thế giới quan, nhân sinh quan, tri thức dân gian và tâm thức hướng biển của cư dân địa phương, đồng thời góp phần cố kết cộng đồng, giáo dục truyền thống và bảo lưu bản sắc văn hóa vùng ven biển Cửa Lò trong dòng chảy lịch sử và đời sống đương đại.

Khái quát về Đền Mai Bảng và nguồn gốc lễ hội

Đền Mai Bảng được xây dựng vào năm Bính Ngọ (1786), là nơi thờ thành hoàng Chiêu Trưng Vương Lê Khôi - vị tướng tài thời Lê sơ có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Ngoài ra, đền còn phối thờ Chế Thắng Phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, Thủy Tinh Phu nhân, Tả Mậu Lâm Lang, Hữu Quế Lâm Lang cùng sáu vị thủy tổ (lục tổ) của các dòng họ có công khai cơ lập làng. Tọa lạc tại vị trí giao thoa giữa biển cả và đất liền, Đền Mai Bảng từ lâu đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng của cư dân ngư nghiệp trong vùng, gắn bó mật thiết với đời sống mưu sinh của cộng đồng, nơi hun đúc tinh thần “vững tay lưới, chắc tay chèo, vươn khơi bám biển” của ngư dân Cửa Lò.

Lễ hội Đền Mai Bảng ra đời cùng với quá trình hình thành và phát triển của ngôi đền. Từ những sinh hoạt tín ngưỡng thường nhật và các nghi lễ quan trọng theo diễn trình hàng năm, trong đó lễ hội Đền Mai Bảng được định lệ tổ chức 3 năm một lần vào các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu, từ 10 - 12/2 âm lịch. Thời điểm này gắn với lễ kỷ niệm thành lập làng, lễ húy kỵ Chế Thắng Phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, đồng thời là dịp tổ chức lễ cầu ngư - nghi lễ quan trọng bậc nhất đối với cư dân làm nghề biển.

Việc lựa chọn thời gian tổ chức lễ hội phản ánh rõ sự gắn bó giữa nghi lễ tín ngưỡng và chu kỳ sinh kế của ngư dân địa phương. Khác với cư dân làng Yên Lương chủ yếu khai thác thủy sản ngoài khơi xa nên tổ chức lễ cầu ngư vào tháng 6 âm lịch([1]), ngư dân làng Mai Bảng lại có truyền thống bắt trong lộng (gần bờ). Vào khoảng tháng Hai, tháng Ba Âm lịch, dưới tác động của dòng hải lưu ven bờ Bắc Trung Bộ và quy luật sinh sản tự nhiên của các loài hải sản, nguồn cá tôm di chuyển vào gần bờ, hình thành vụ cá Bắc - mùa khai thác quan trọng nhất trong năm. Chính vì vậy, lễ hội Đền Mai Bảng gắn với lễ cầu ngư đầu năm mang ý nghĩa cầu mong mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng, tàu thuyền ra khơi an toàn, đánh bắt được nhiều tôm cá. Sự khác biệt về thời điểm tổ chức lễ cầu ngư giữa các làng biển liền kề như Mai Bảng và Yên Lương cho thấy sự thích ứng linh hoạt của cư dân Cửa Lò trước điều kiện tự nhiên, đồng thời phản ánh mối quan hệ hữu cơ giữa tín ngưỡng dân gian và môi trường sinh thái biển.

Diễn trình và đặc trưng nghi lễ của Lễ hội Đền Mai Bảng

Không gian lễ hội Đền Mai Bảng được mở rộng từ khu vực đền thờ ra toàn bộ không gian sinh hoạt truyền thống của làng biển, đặc biệt là không gian biển Lạch Lò. Đây là không gian văn hóa đa tầng, nơi kết nối giữa đất liền và biển cả, giữa đời sống tâm linh và hoạt động mưu sinh của ngư dân.

Diễn trình lễ hội được tổ chức chặt chẽ, bao gồm các nghi lễ chính: Lễ Mộc dục, Lễ Yết cáo, Lễ cúng oản điểm đinh - cầu đinh, Lễ cầu ngư trên biển, Lễ Đại tế và Lễ Tạ. Trong đó, Lễ cúng oản điểm đinh và Lễ cầu ngư trên biển là hai nghi thức tiêu biểu, mang đậm dấu ấn văn hóa biển Nghệ An.

Lễ dâng oản điểm đinh - cầu đinh của 28 dòng họ

Lễ cúng oản điểm đinh là một nghi lễ dân gian độc đáo, phản ánh sâu sắc mối quan hệ hữu cơ giữa tín ngưỡng - sinh kế - cấu trúc xã hội truyền thống của cư dân miền biển, trong đó tiêu biểu là cư dân vùng biển Cửa Lò. Nghi lễ được thực hành nhằm báo cáo với các vị thần linh về số lượng dân đinh của các gia đình, dòng họ trong làng, đồng thời cầu mong “bản xã đinh nhiều, tài vượng, lớn bé bình an, nhân khang, vật thịnh”. Những gia đình chưa có con trai cũng sắm sửa lễ vật để tham gia cầu đinh, thể hiện khát vọng sinh sôi nòi giống và sự tiếp nối các giá trị gia đình, dòng tộc.

Trong đời sống của cư dân ngư nghiệp, sức khỏe và nhân lực, đặc biệt là lực lượng tráng đinh (nam giới khỏe mạnh), giữ vai trò then chốt đối với việc duy trì nghề biển, vươn khơi mưu sinh và tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo. Trong môi trường lao động nhiều hiểm nguy, nơi “đầu sóng ngọn gió”, ước vọng con cháu đông đủ, khỏe mạnh, tiếp nối nghề truyền thống trở thành nhu cầu thiết yếu, gắn liền với sự tồn tại và phát triển bền vững của cộng đồng làng biển.

Trước đây, mỗi gia đình có bao nhiêu tráng đinh thì chuẩn bị bấy nhiêu chiếc oản để dâng cúng; ngày nay, nghi lễ được thực hành theo hình thức tượng trưng, do các dòng họ đại diện đứng lễ, song vẫn bảo lưu đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng vốn có. Chính vì vậy, tục lệ “cúng oản điểm đinh” không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, mà còn là biểu hiện sinh động của khát vọng nhân sinh và bản sắc văn hóa cư dân làng biển. Những chiếc oản vuông vắn, trắng tinh, dẻo thơm được tạo nên từ việc kỳ công giã nếp, dâng lên các vị thần linh với ước nguyện “đinh phát, lộc trường” người đông, nhà thịnh, sinh kế bền vững. Nghi lễ này phản ánh niềm tin vào sự hài hòa giữa trời - đất - con người, giữa lao động sản xuất với tín ngưỡng dân gian. Đồng thời, nó cũng là minh chứng cho khát vọng trường tồn, mong muốn duy trì nòi giống, phát triển cộng đồng bền vững nơi biển cả. Mang trong mình thông điệp sinh sản - sinh tồn, tục lệ này còn góp phần gắn kết cộng đồng qua lao động tập thể, lễ nghi truyền thống và những giá trị văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Lễ cầu ngư trên biển là nghi lễ quan trọng nhất và cũng là điểm nhấn đặc sắc của Lễ hội Đền Mai Bảng, thể hiện rõ tư duy văn hóa biển và thế giới quan của cư dân ngư nghiệp Cửa Lò.

Đoàn rước thuyền rồng trên bộ

Lễ rước trên biển

Khi đoàn rước bộ ra đến Cảng Cửa Lò, thuyền rồng, kiệu rước và toàn bộ hệ thống đồ nghi trượng được di chuyển lên 10 chiếc thuyền đã được Ban Tổ chức lựa chọn, bắt thăm và đánh số thứ tự từ 1 đến 10 để phục vụ nghi thức lễ cầu ngư trên biển. Đoàn rước thủy được sắp xếp theo trật tự nghi lễ chặt chẽ: thuyền dẫn đầu (thuyền Ngự) chở kiệu Chiêu Trưng Vương Lê Khôi; thuyền thứ hai chở kiệu Chế Thắng Phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu; thuyền thứ ba chở kiệu Thủy Tinh Phu nhân; thuyền thứ tư chở kiệu sáu vị thủy tổ (lục tổ); thuyền thứ năm chở thuyền rồng; các thuyền tiếp theo chở binh khí, đội nghi lễ, Nhân dân và du khách tham gia lễ cầu ngư.

Trong dịp này, hầu hết tàu thuyền của ngư dân trong làng đều neo đậu tại bến, được vệ sinh sạch sẽ, trang trí cờ hoa rực rỡ và tham gia đoàn rước thủy. Hàng trăm thuyền lớn nhỏ nối đuôi nhau tạo thành một đoàn rước dài hàng ki lô mét, làm nên không khí lễ hội trang nghiêm mà sôi động, rộn ràng trống chiêng, cờ lọng, sắc màu rực rỡ trên vùng biển Cửa Lò. Cảnh tượng ấy không chỉ thể hiện quy mô và sức lan tỏa của lễ hội, mà còn phản ánh tinh thần cộng đồng, ý thức gắn kết và niềm tin tín ngưỡng sâu sắc của cư dân ngư nghiệp đối với biển cả và các vị thần bảo hộ.

Sau khi đoàn rước đến cửa Lạch Lò, vùng giao thoa giữa cửa sông và biển cả. Đây được xem như cửa ngõ linh thiêng nơi trời đất, sông núi và biển cả giao hòa, khí thiêng tụ hội, chủ tế hiệu lệnh cho đoàn rước thuỷ dừng lại thả neo chuẩn bị cho buổi lễ. Tại đây thuyền ngự thả neo ở vị trí đầu tiên, các thuyền còn lại đậu tiếp nối và song song với nhau. Lúc này, đội nghi lễ trên các thuyền phải xoay kiệu lại theo chiều ngang của thân thuyền để kiệu thần hướng vào đền Cửa Lạch, nơi thờ Hoàng Tá Thốn - vị thần trấn giữ cửa biển, bảo hộ cho tàu thuyền và ngư dân. Quy tắc “hướng vọng” mang tính quy ước cộng đồng, bắt nguồn từ tín ngưỡng lâu đời của ngư dân Cửa Lò: mỗi khi tàu thuyền ra vào cửa lạch, tất cả mọi người đều phải quay mặt về phía đền, tuyệt đối không được quay lưng lại. Tập tục ấy vừa thể hiện sự tôn kính với thần linh, vừa phản ánh mối gắn kết thiêng liêng giữa sinh kế biển và tín ngưỡng dân gian. Trong lễ cầu ngư, việc xoay kiệu thần chầu vào Đền Cửa Lạch chính là sự hướng vọng nhằm tri ân và cầu mong vị thần trấn giữ cửa lạch phù hộ cho ngư dân ra khơi vào lộng thuận buồm xuôi gió, tôm cá đầy khoang. Tục lệ này không chỉ được duy trì qua nhiều thế hệ mà còn trở thành một “nét văn hóa” đặc trưng của cư dân biển Cửa Lò, phản ánh niềm tin sâu sắc của cộng đồng đối với các vị hải thần, đồng thời thể hiện mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa tín ngưỡng dân gian và sinh kế biển. Ban hành lễ lập đàn trên kiệu ngự, bày biện lễ vật gồm hương hoa và quả, trầu cau, rượu, nước, xôi gà, oản, cơm trứng, cháo nổ, kim ngân vàng mã, y phục, gạo muối, ghêu, tôm, cá…

Lễ cầu ngư trên biển

Đến thời điểm theo quy định từ xưa đến này là giờ Thìn (9 giờ sáng), chấp hiệu gióng 3 hồi 9 tiếng trống để báo hiệu lễ tế bắt đầu. Ban lễ nghi nghiêm trang quỳ trước án thờ để làm lễ. Lần lượt các nghi thức diễn ra rất trang nghiêm, đúng tuần tự theo nghi thức truyền thống, với mong muốn được các thần phù hộ cho kỳ lễ cầu ngư của làng được “Đại Hải phong hòa vũ thuận, Hải khẩu ân ba ngư hà thắng lợi bách dân hòa lạc, vạn sự khang ninh”. Sau khi thực hành nghi lễ cầu ngư xong, thầy cúng xin âm dương nếu được 3 đài liên thông thể hiện thần linh đã chứng lòng thành phù hộ mọi việc hanh thông thuận lợi, mọi người trên các thuyền vỗ tay vui mừng phấn khởi và tin tưởng vào một năm thắng lợi, bội thu. Sau khi cúng lễ xong, ban lễ nghi thực hiện nghi thức phóng sinh ngao, tôm, cá… nhằm gửi đi ước vọng thiên nhiên hài hòa, sinh kế bền vững cho muôn đời sau.

Trong không gian mênh mang của biển cả, giữa sóng nước, gió trời và đường chân mây mở rộng, nghi lễ dâng hương, đọc văn tế, xin âm dương và phóng sinh được tiến hành một cách trang nghiêm, thành kính. Tiếng trống, tiếng chiêng hòa cùng tiếng sóng biển tạo nên không gian thiêng, nơi con người trực tiếp giao tiếp với các lực lượng siêu nhiên của biển. Nội dung văn tế và lời khấn tập trung cầu mong mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng, ngư hà đắc lợi, dân cư an lạc, tàu thuyền ra khơi an toàn, mùa đánh bắt bội thu, qua đó thể hiện khát vọng sống còn của cộng đồng ngư dân trong môi trường lao động nhiều rủi ro.

Nghi lễ cầu ngư trên biển không chỉ mang ý nghĩa tâm linh thuần túy mà còn là sự kết tinh của tri thức dân gian biển, bao gồm hiểu biết về thủy văn, dòng chảy, thời tiết, mùa vụ và tập quán khai thác hải sản. Thông qua việc lựa chọn thời điểm, không gian và trình thức hành lễ, cư dân biển thể hiện kinh nghiệm ứng xử hài hòa với tự nhiên, đề cao tinh thần tôn trọng biển cả như một thực thể sống, vừa nuôi dưỡng vừa thử thách con người.

Đồng thời, lễ cầu ngư còn hàm chứa sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tri ân các bậc tiền nhân, các vị thần biển đã che chở cho làng biển và nghề nghiệp qua nhiều thế hệ. Việc toàn thể cộng đồng cùng tham gia nghi lễ trên biển góp phần củng cố tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng và trách nhiệm chung trong việc bảo vệ ngư trường, giữ gìn nghề truyền thống và hướng tới sự phát triển bền vững của làng biển Cửa Lò.

Sau lễ cầu ngư đoàn rước lại khởi hành, chạy vòng ra gần đảo Ngư hướng về phía Nam với ý niệm hướng về quê cũ nơi có đền Cửa Sót và Đền Bích Hải, cuối cùng đoàn thuyền cập bến về đền.

Lễ đại tế tại đền

Song song với phần lễ là phần hội, diễn ra với nhiều trò chơi dân gian và sinh hoạt văn hóa đặc trưng như: thi giã oản, đan lưới, lắc thuyền mủng, bơi sải, kéo co, hát dân ca… tạo nên không khí sôi nổi, gắn kết cộng đồng, phản ánh sinh động đời sống văn hóa tinh thần của cư dân làng biển.

Thi giã oản trong lễ hội

Lễ hội Đền Mai Bảng là sự kết tinh của tín ngưỡng dân gian, lịch sử làng xã và kinh nghiệm mưu sinh của cư dân ven biển Nghệ An. Lễ hội không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh, cầu mong bình an và no đủ cho ngư dân, mà còn góp phần củng cố tinh thần đoàn kết cộng đồng, truyền dạy tri thức dân gian, phong tục tập quán và các giá trị văn hóa truyền thống cho các thế hệ sau.

Trong bối cảnh hiện nay, lễ hội Đền Mai Bảng còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa biển, đồng thời trở thành một sản phẩm văn hóa - du lịch đặc sắc của Cửa Lò, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương trên cơ sở phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể. Ngày 06/01/2026, Lễ hội Đền Mai Bảng, phường Cửa Lò đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Việc nghiên cứu, nhận diện và giới thiệu Lễ hội Đền Mai Bảng vì vậy không chỉ có ý nghĩa khoa học trong lĩnh vực văn hóa học và dân tộc học, mà còn góp phần quan trọng vào công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể gắn với cộng đồng cư dân ven biển Nghệ An trong bối cảnh đương đại./.

 



[1] Cư dân đánh bắt cá xa bờ (đi khơi) thường tập trung đánh bắt cá vào tháng 5-10 âm lịch (ngư dân thường gọi là Vụ cá Nam): Khi gió mùa Tây Nam thổi mạnh, dòng hải lưu nóng từ phía Nam tràn ra Bắc, mang theo các loài cá lớn, có giá trị kinh tế cao (như cá ngừ, cá thu, cá nục…) xuất hiện nhiều ở ngoài khơi. Đây là mùa vụ quan trọng của ngư dân đánh bắt xa bờ.

 

tin tức liên quan

Thống kê truy cập

114696198

Hôm nay

2290

Hôm qua

2388

Tuần này

21071

Tháng này

229773

Tháng qua

136537

Tất cả

114696198