Văn hoá học đường

Hướng tới một nền giáo dục thực sự đổi mới (Phần 1 - Tái cấu trúc hệ thống giáo dục)

Tại hội thảo “Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam trong môi trường công nghệ thông tin” do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức mới đây, bài phát biểu của Hiệu trưởng Trường Đại học FPT – TS. Lê Trường Tùng đã thu hút sự chú ý của nhiều người tham dự. Chúng tôi xin được đăng nguyên văn bài tham luận của ông.

Bài viết nhấn mạnh thêm vai trò then chốt của nguồn nhân lực cho phát triển – qua đó thấy rõ hơn tính cấp thiết của việc đổi mới cơ bản, toàn diện – đồng thời đổi mới một cách đúng đắn - giáo dục đào tạo Việt nam. Trong rất nhiều công việc có thể làm, bài viết đặc biệt nhấn mạnh 4 công việc cụ thể nhằm thay đổi diện mạo giáo dục Việt nam: kiến trúc lại hệ thống giáo dục; giải quyết vùng trũng tiếng Anh; tài chính – xã hội hóa giáo dục và CNTT & đổi mới giáo dục.

1. Nhân lực – yếu tố then chốt phát triển đất nước và công thức Ray Cline

Nghị quyết Đại hội XI đã khẳng định cần phải “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”, xem đây là một trong các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp đột phá trong chiến lược phát triển đất nước.

Điều này đặc biệt quan trọng để tận dụng thế mạnh của Việt nam thời kỳ lịch sử “dân số vàng” và vừa thoát ngưỡng thu nhập thấp, và quan trọng hơn nữa khi thực trạng giáo dục đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực hiện nay đang có nhiều vấn đề nghiêm trọng. Điều này cũng được chỉ rõ trong văn kiện Đại hội Đảng XI: “Giáo dục và đào tạo có tiến bộ trên một số mặt, nhưng còn nhiều hạn chế, yếu kém, gây bức xúc cho xã hội… Quản lý nhà nước về giáo dục còn lúng túng… Chất lượng nguồn nhân lực vẫn là điểm yếu cản trở sự phát triển”.

Ray Cline – Tiến sỹ đại học Harvard, nguyên Giám đốc CIA đã đưa ra công thức Ray Cline khá nổi tiếng đo tiềm lực một quốc gia:

P = (C+E+M) × (S+W)

trong đó P (National Power) - Tiềm lực quốc gia được đo qua các yếu tố:

- C (Critical Mass) – Nguồn nhân lực được đào tạo

- E (Economic power) - Tiềm lực kinh tế

- M (Military power) - Tiềm lực quân sự

- S (Strategy) - Chiến lược quốc gia

- W (Will) – Ý chí

Công thức này có thể  xem như một biểu diễn dạng toán học cho quan điểm: với tiềm năng kinh tế (E) và quân sự (M) ở mức độ vừa phải – Việt nam có thể nâng tiềm lực quốc gia lên cao nếu có một Chiến lược đúng (S), một Ý chí mạnh mẽ (W) và dựa vào Nguồn nhân lực tốt (C).

Với dân số đông đảo đứng thứ 13 trên thế giới, nếu có bước đi đúng đắn, Việt nam có quyền mơ ước đến năm 2020 sẽ có một dịch chuyển quan trọng – như một mục tiêu chiến lượcbiến dân số đông từ gánh nặng kinh tế xã hội thành ưu thế cạnh tranh  - để đưa đất nước lên vị trí xứng đáng. Điều này không chỉ cần thiết ở quy mô quốc gia mà còn ở quy mô các địa phương – để các địa phương đông dân phải trở thành các địa phương giàu có, chứ không phải là nơi luôn cần sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước.

Câu hỏi để suy ngẫm: Vì sao Thanh hóa – tỉnh đông dân thứ 3 của Việt nam (sau Hà nội và TP HCM), có truyền thống hiếu học, có chất lượng giáo dục phổ thông thuộc loại TOP của Việt nam (căn cứ vào kết quả thi tốt nghiệp, thi đại học, thi học sinh giỏi hàng năm) – lại là tỉnh phải bù ngân sách nhiều nhất trong 63 tỉnh thành? Lời giải để biến dân số đông từ gánh nặng kinh tế xã hội thành ưu thế cạnh tranh cho Thanh hóa – phải chăng cũng là lời giải cho Việt nam? 

2. Kiến trúc phù hợp cho hệ thống giáo dục Việt nam

Việc đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục đào tạo bắt đầu từ đổi mới tư duy, đổi mới quản lý – nhưng để đổi mới một cách đúng đắn phải bắt đầu từ công việc mang tính cơ bản là xem xét và thay đổi Kiến trúc cuả hệ thống giáo dục đào tạo Việt nam . Thiếu một kiến trúc hợp lý, việc đổi mới giáo dục sẽ tiếp tục mang tính chắp vá.

Mỗi quốc gia có một cấu trúc, một kiến trúc giáo dục đào tạo mà phần lớn nhìn gần giống nhau (nhà trẻ mẫu giáo – tiểu học – trung học – dạy nghề/cao đẳng/đại học). Giáo dục đào tạo Việt nam sau nhiều thay đổi đang có cấu trúc/kiến trúc chắp vá [1421] (không tính nhà trẻ mẫu giáo): 

 [1 tiểu – 4 trung – 2 cao – 1 đại]

[1 tiểu] là 1 hệ tiểu học, [4 trung] là 4 hệ trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề, [2 cao] là 2 hệ cao đẳng nghề và cao đẳng chuyên nghiệp (cao đẳng “không nghề”), [1 đại] là 1 hệ đại học - bao gồm cả đại học và sau đại học.

Thời gian học hết trung học phổ thông là 12 năm, thời gian để có bằng cao đẳng/cao đẳng nghề là thêm 3 năm sau phổ thông, thời gian có bằng đại học là thêm 4-5 năm sau phổ thông. Cộng với 6 năm đầu đời sẽ ra tuổi có bằng cấp tương ứng: 18, 21, 22-23 tuổi để có bằng trung học phổ thông, cao đẳng và đại học.

Kiến trúc mang tính chắp vá này cần phải thay đổi cơ bản đáp ứng 5 mục tiêu:

- Phù hợp với hội nhập quốc tế, tương thích với nhiều quốc gia, đảm bảo tính chuyển đổi, sử dụng được tài nguyên học tập quốc tế và trao đổi giáo dục quốc tế.

- Định hướng nghề nghiệp, phân luồng nghề nghiệp sớm, giải quyết tâm lý xã hội đang đổ xô chen chúc vào cửa đại học.

- Liên thông các cấp học trong nước mềm dẻo, dễ dàng.

- Giảm thời gian vào đời, hướng tới việc học suốt đời.

- Quản lý về mặt nhà nước thuận lợi, không chồng chéo.

Trong dự thảo đề án đổi mới giáo dục có nhắc sơ bộ đến việc gộp hệ nghề và hệ chuyên nghiệp nhưng không đưa ra được kiến trúc phù hợp. Và liệu có kiến trúc giáo dục nào đáp ứng được cả 5 mục tiêu nêu trên hay không?

Một phương án kiến trúc đáp ứng được cả 5 mục tiêu trên là kiến trúc [1111] thay cho kiến trúc [1421]:

[1 tiểu - 1 trung - 1 cao - 1 đại] 

- [1 tiếu] là 1 cấp tiểu học, thời gian là 5 năm.

- [1 trung] là 1 cấp trung học, thời gian là 4 năm.

9 năm này theo mô hình 5 năm Primary + 4 năm Secondary trong hệ thống giáo dục của nhiều nước theo mô hình Anh, được áp dụng rộng rãi tại các nước khối thịnh vượng chung. Học xong 9 năm có bằng tốt nghiệp văn hoá phổ thông.

- [1 cao] là cao đẳng, thời gian học 3 năm. Không phân biệt 2 hệ cao đẳng nghề và cao đẳng  “không nghề”.

Việc gộp cao đẳng nghể và cao đẳng “không nghề” đã được nhắc đến trong dự thảo đề án.  Còn việc không còn trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề là một thay đổi quan trọng.

Trung học phổ thông được thay bằng 2 năm “dự bị đại học” (Pre-University) dành cho những ai mong muốn học đại học, 2 năm dự bị này học theo định hướng chuyên môn qua các môn tự chọn để sau đó lấy kết quả xét tuyển hoặc thi tuyển vào các trường đại học, và cũng để giảm bớt thời lượng học đại học sau này.

Trung học chuyên nghiệp/trung học nghề được gộp chung và đưa thành giai đoạn đầu (1.5 năm) của Cao đẳng. Học sinh học xong lớp 9 (xong phổ thông) có thể phân luồng học Cao đẳng luôn thay cho hướng học Dự bị đại học. Học xong giai đoạn đầu 1.5 năm của Cao đẳng (trung cấp trước đây) được nhận bằng Cao đẳng (Diploma) và có thể đi làm sớm, học thêm giai đoạn 2 của Cao đẳng (1.5 năm) nhận bằng Cao đẳng Nâng cao (Higher Diploma). Có bằng Cao đẳng Nâng cao có thể học tiếp liên thông đại học (2 năm) nếu muốn hoàn thiện học vấn. 

Đây là mô hình áp dụng ở nhiều nước. Hiện nay Singapore hàng năm đều sang Việt nam tuyển học sinh học hết lớp 9 sang Singapore học Polytechnic (Cao đẳng) là theo mô hình này. Nếu hiện nay xong lớp 12 mới vào đại học, trượt đại học mới vào cao đẳng thì theo mô hình mới [1111],  sau 9 năm có nhánh rẽ cao đẳng.

- [1 đại] là đại học, thời gian học 3-4 năm thay cho 4-5 năm hiện nay. Việc giảm 1 năm học đại học nhờ đã có kiến thức trong 2 năm học dự bị đại học. Với sinh viên có bằng Cao đẳng Bậc cao, thời gian học liên thông đại học là  2 năm bổ sung.

Việc đào tạo Thạc sỹ, Tiến sỹ không có gì thay đổi. Việc liên thông các cấp độ học và các chương trình học được thực hiện theo hình thức “chuyển đổi tín chỉ” – tức chuyển đổi một số nội dung đã học để bớt đi một số môn và thời gian học khi chuyển sang chương trình học cao hơn hoặc chương trình khác. Với quan niệm liên thông này, việc liên thông được tiến hành tự do, mềm dẻo giữa các ngành và các cấp học. 

Hệ thống trường học sẽ quy hoạch lại để chỉ còn trường Tiểu học, trường Trung học, trường Cao đẳng và trường Đại học (không tính các trung tâm dạy nghể ngắn hạn). Chương trình phổ thông được thiết kế lại thành hệ 9 năm. Việc học dự bị đại học được thực hiện tại trường Trung học.

Với kiến trúc giáo dục hiện tại, sẽ gộp trường Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông thành trường Trung học, gộp trường Trung cấp vào trường Cao đẳng.  

Kiến trúc mới  [1 tiểu - 1 trung - 1 cao - 1 đại] đáp ứng đượccả 5 mục tiêu nêu trên. Bộ Giáo dục sẽ quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông trở xuống. Bộ Đại học quản lý đào tạo sau phổ thông (cao đẳng – đại học).

Tuổi để có bằng phổ thông là 15 (trước đây là 18), tuổi có bằng Cao đẳng/Cao đẳng Nâng cao là 17-18 (trước đây là 21), tuổi có bằng đại học là 20-21 (trước đây là 22-23). Thanh niên vào đời sớm hơn phù hợp với tiêu chí sinh học giới trẻ hiện nay, việc giảm thời gian học ngoài cái lợi là giảm chi phí xã hội còn tăng được thời gian cống hiến của cá nhân, và đất nước có thêm nguồn lao động trẻ.   

 

 

tin tức liên quan

Thống kê truy cập

114425277

Hôm nay

2297

Hôm qua

2351

Tuần này

21954

Tháng này

22325

Tháng qua

1114316576

Tất cả

114425277